Ý nghĩa tên gọi Huyệt Ngũ Lý đó là:
- Mã Nguyên Đài khi chú giải thiên Khí Huyết Luận (Tố Vấn 58) cho rằng: châm (thích) huyệt Ngũ Lý đến 25 thích thì khí của 5 tạng sẽ kiệt mà chết. Như vậy, huyệt này là nơi (lý) có liên hệ với năm (ngũ) Tạng, vì thế gọi là Ngũ Lý.
- Huyệt ở dưới huyệt Thiên Phủ 5 (ngũ) thốn, ở giữa đại mạch (lý), lại ở vùng tay (thủ) vì vậy gọi là Ngũ Lý hoặc Thủ Ngũ Lý (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Xích Chi Ngũ Lý.
Xuất xứ
Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu 10).
Đặc tính
Huyệt thứ 13 của kinh Đại Trường.
Vị trí huyệt ngũ lý
Huyệt ở sát bờ xương cánh tay, trên nếp gấp khuỷu (Khúc Trì – Đtr.11), 3 thốn.

Giải phẫu
- Dưới da là phần rộng ngoài của cơ 3 đầu cánh tay, vách liên cơ ngoài.
- Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh quay. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C5.
Tác dụng huyệt ngũ lý
Sơ kinh, hoạt lạc, lợi quan tiết.
Chủ trị
Trị khuỷu tay đau, cánh tay đau, lao hạch cổ, phúc mạc viêm, phổi viêm.
Châm cứu
Châm thẳng 0,5 – 2 thốn. Cứu 3 – 5 tráng, Ôn cứu 5 – 10 phút.
Phối hợp huyệt
1. Phối Lệ Đoài (Vi.45) + Tam Dương Lạc (Ttu.8) + Tam Gian (Đtr.3) + Thiên Tỉnh (Ttu.10) trị thích nằm, tay chân uể oải (Tư Sinh Kinh).
2. Phối Tý Nhu (Đtr.14) trị lao hạch (Bách Chứng Phú).
