Home Blog Page 40

Bạch Biển Đậu

BẠCH BIỂN ĐẬU hạt già phơi hay sấy khô của cây đậu ván trắng Dolichos lablab L.(Lablab
vulgaris Savi). Họ Đậu Fabaceae.

Tính vị: vị ngọt, đắng, tính hơi ấm

Quy kinh: vào 2 kinh tỳ, vị

Công năng chủ trị:

– Kiện tỳ hóa thấp: dùng trong các trường hợp tỳ hư tiết tả; hoặc vừa thổ vừa tả, phối hợp hương nhu, tô diệp, hậu phác. Để làm mạnh tỳ vị bổ phế; phối hợp với bạch truật, đảng sâm, hoài sơn.

– Giải thử, giải độc: dùng khi bị cảm nắng (trúng thử). Trong trường hợp này có thể dùng cả hoa biển đậu.

Liều dùng: 4-8g

Chú ý: khi dùng có thể sao vàng

Đại Táo

ĐẠI TÁO là quả đã được chế biến của cây táo Zizphus jujuba Mill. var. inermis (Bge)
Rehd. Họ Táo ta Rhamnaceae.

Tính vị: vị ngọt, tính hơn ôn

Quy kinh: vào 2 kinh tỳ, vị

Công năng chủ trị:

– Kiện tỳ chỉ tả: dùng khi tỳ hư tiết tả có phối hợp với đảng sâm, hoài sơn, bạch linh.

– Bổ huyết chỉ huyết: dùng trong các trường hợp huyết hư (thiếu máu) hoặc xuất huyết, phối hợp với lá sen, cỏ nhọ nồi, huyết dụ…

– Dưỡng tâm an thần: dùng cho các trường hợp mất ngủ, tâm phiền, tự hãn. Tinh thần bất thường, phối hợp với hắc táo nhân, ngải lượng, lạc tiên, bá tử nhân.

Liều dùng: 4-12g quả, có thể dùng liều lớn 40-80g

Kiêng kỵ: không nên dùng cho người bụng đau trướng đầy.

Cam Thảo

CAM THẢO dùng rễ của cây cam thảo Glycyrrhiza glabra L hoặc Glycyrrhiza uralensis
Fisch ex DC. Họ Đậu Fabaceae.

Tính vị: vị ngọt, tính bình

Quy kinh: vào kinh can, tỳ, thông hành 12 kinh

Công năng chủ trị:

– Ích khí, dưỡng huyết, dùng trong bệnh khí huyết hư nhược mệt mỏi thiếu máu; phối hợp với đảng sâm, thục địa.

– Nhuận phế, chỉ ho: dùng trong bệnh đau hầu họng, viêm họng cấp, mạn tính, viêm amiđan hoặc ho nhiều đàm. Phối hợp can khương, mạch mon, xạ can.

– Tả hỏa giải độc: dùng trong bệnh mụn nhọt đinh độc sưng đau. Ngoài ra cam thảo còn đóng vai trò dẫn thuốc và giải quyết một số tác dụng phụ trong đơn thuốc. Ví dụ trong bài Tứ nghịch thang (phụ tử, can khương, cam thảo). Cam thảo có tác dụng điều hòa tính hàn, nhiệt của phương thuốc. Nếu phương thuốc mang tính nhiệt quá mạnh nó sẽ làm giảm tính nhiệt của phương và nếu quá hàn nó sẽ làm giảm tính hàn của phương thuốc.

– Hoãn cấp chỉ thống: dùng trị đau dạ dày, đau bụng, gân mạch co rút, phối hợp với bạch thược.

Kiêng kỵ: nếu tỳ vị có thấp trệ, sôi bụng, đầy bụng không dùng. Cam thảo dùng lâu dễ bị phù nề.

Chú ý:

– Không dùng cam thảo với cam toại, đại kích, nguyên hoa, hải tảo, khi dùng với tính chất bổ tỳ vị, cam thảo thường được trích mật ong.

– Tác dụng dược lý: cao cam thảo có tác dụng chữa loét dạ dày ở chuột thực nghiệm. Chất glycyrrhizin có trong cam thảo có tác dụng giảm viêm loét ở môn vị dạ dày chuột thí nghiệm; còn có tác dụng tăng sự bài tiết dịch vị. Các chất flavonoid trong cam thảo như liquiritin, liquiritigenin…có tác dụng ức chế ruột cô lập ở chuột lang; ngoài ra còn có tác dụng giải kinh giải co quắp và chống các vết loét. Cam thảo và chất glycyrrhizin có tác dụng giải độc nhất định đối với các trường hợp ngộ độc thức ăn hoặc trúng độc một số thuốc khác; chất glycyrrhizin sau khi thủy phân tạo thành chất acid glucorunic, chất này sẽ kết hợp với chất độc (cơ chế giải độc). Chất glycirrhizin tăng cường tác dụng giải độc cho gan, còn có tác dụng chống viêm nhiễm, giảm cholesterol máu.

– Tác dụng kháng khuẩn: dịch chiết cồn của cam thảo có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn lao, trực khuẩn đại tràng, lỵ amip và trùng roi.

Hoàng Kỳ

HOÀNG KỲ dùng rễ phơi khô của cây hoàng kỳ Astragaus membranaceus Fisch; Bge.
Var.mongholicus (Bge) Hsiao; hoặc cây hoàng kỳ Mạc giáp: Astragalus membranaceus (Fisch) Bge. Họ Đậu Fabaceae.

Tính vị: vị ngọt, tính ấm

Quy kinh: vào kinh phế, tỳ

Công năng chủ trị:

– Bổ khí trung tiêu dùng đối với trạng thái cơ thể suy nhược, chân tay vô lực, yếu hơi, chóng mặt, kém ăn, các bệnh sa giáng tạng phủ, tử cung, lòi dom, lỵ, tả lâu ngày, băng lậu của phụ nữ; phối hợp với hoài sơn, bạch truật, thăng ma, sài hồ, trần bì, cam thảo.

– Ích huyết: dùng đối bệnh huyết hư, thiếu máu, đặc biệt thiếu máu sau bệnh sốt rét; hoặc sau khi bị mất máu nhiều.

– Cố biểu, liễm hãn: dùng chữa các bệnh ra nhiều mồ hôi, mồ hôi trộm.

– Lợi niệu tiêu phù thũng: dùng khi tỳ hư, vận hóa nước kém, tâm thận dương hư, tay chân, mặt mắt phù phũng, đặc biệt phù bụng do báng bì, dùng hoàng ký tần với gà đen.

– Giải độc trừ mủ: dùng trong bệnh đái tháo đường, phối hợp với hoài sơn, tang diệp. Ngoài ra còn dùng tự tiêu khát cho kết quả tốt.

Liều dùng: 4-20g

Chú ý:

– Khi dùng với tính chất bổ, hoàng kỳ thường được trích với mật ong.

– Tác dụng dược lý: nước sắc 0,5kg/kg chuột cống, tiêm dưới da, có tác dụng lợi niệu. Với liều trên được đánh giá tương đương với liều 0,05g/kg chuột cống, của chất theobromin. Nước sắc với liều 0,05g/kg cho tiêm tĩnh mạch, có tác dụng hạ huyết áp. Dịch chiết bằng cồn làm cường tim cóc cô lập, đều ức chế đối với chuột cô lập và không cô lập của thỏ.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc 100% có tác dụng ức chế đối với tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ thương hàn.

– Hoàng kỳ tác dụng hiệp đồng với ìnterferon, làm tăng khả năng đáp ứng của interferon đối với nhiễm virus, tăng khả năng thực bào, tăng kháng thể.

Hoài Sơn

HOÀI SƠN là củ đã chế biến của cây hoài sơn Dioscorea persimilis Prain et Burkill. Họ Củ
mài Dioscoreaceae.

Tính vị: vị ngọt, tính bình

Quy kinh: vào các kinh tỳ, vị, phế, thận

Công năng chủ trị:

– Kiện tỳ, chỉ tả: dùng trong trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn uống kém, ỉa chảy. Trẻ con bị da vàng, bụng ỏng phối hợp với bạch truật.

– Bổ phế: dùng trong trường hợp khí phế hư nhược, hơi thở ngắn, người mệt mỏi; ngoài ra còn có tác dụng chỉ ho.

– Ích thận, cố tinh: dùng khi thận hư, dẫn đến mộng tinh, di tinh, tiểu tiện không cầm được; phụ nữ bạch đới. Ngoài ra còn dùng trong bệnh tiêu khát (bệnh đái tháo đường), phối hợp với huyền sâm, cát căn, tang diệp. Để có tinh có thể dùng phương thuốc sau: hoài sơn 80g, thục địa 120g, khiếm thực 60g, thổ phục 40g, đỗ trọng nam 60g, rễ cỏ xước 20g, rau má 100g, vỏ cây trang 30g (sao vàng), tầm gửi cây dâu 40g, tỳ giải 40g, tán bột, làm hoàn. Hoặc phối hợp với mẫu đơn bì, thục địa, bạch linh, trạch tả, sơn thù du để bổ thận âm.

– Giải độc, trị bệnh sưng vú, đau đớn; có thể dùng củ mài tươi giã nát đắp lên chỗ sưng đau.

Liều dùng: 12-40g

Kiêng kỵ: những người có thực tà thấp nhiệt thì không dùng

Bạch Truật

BẠCH TRUẬT dùng rễ của cây bạch truật Atractylodes macrocephala Koidz. Họ Cúc
Asteraceae.

Tính vị: vị ngọt đắng, tính ấm

Quy kinh: vào kinh tỳ và vị

Công năng chủ trị:

– Kiện tỳ, lợ thủy, ráo thấp: dùng trong bệnh tỳ hư vận hóa nước trì trệ, gây phú thũng, tiểu tiện khó khăn, dùng phối hợp với hoàng kỳ, phục linh.

– Kiện vị, tiêu thực, dùng khi công năng của tỳ vị hư nhược, tiêu hóa không tốt, bụng đầy trướng, đau, buồn nôn; có thể dùng bạch truật 12g, chỉ xác 6g. Ngoài ra còn dùng để trị bệnh ỉa chảy do tỳ vị thấp trệ, đại tiện lỏng, có thể phối hợp với đảng sâm, can khương, cam thảo trong phương Lý trung thang. Trong trường hợp tỳ vị dương hư, chân tay giá lạnh, thêm phụ tử sẽ có phương phụ tử lý trung thang. Để kiện tỳ, bổ khí bạch truật phối hợp với hoàng kỳ, long nhãn, táo nhân, đảng sâm…trong bài quy tỳ.

– Cố biểu, liễm hãn, dùng trong bệnh mồ hôi trộm (đạo hãn), phối hợp hoàng ký, khiếm thực.

– An thai, chỉ huyết: dùng trong khi động thai phối hợp với trư ma căn, ngải diệp, tô ngạnh.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người âm hư háo khát không nên dùng

Chú ý:

– Bạch truật dùng không qua chế biến để trị bệnh thấp nhiệt, khi sao tẩm như tẩm mật: có tác dụng bổ tỳ, trị nôn mửa, đau bụng, an thai; sao cháy có tác dụng chỉ huyết.

– Tác dụng dược lý: nước sắc bạch truật có tác dụng lợi niệu và duy trì khả năng bài xuất điện giải natri.

Đẳng Sâm

ĐẲNG SÂM là rễ phơi khô của nhiều loài đẳng sâm Condonopsis. Là rễ của cây đẳng sâm
Codonopsis pilosula Oliv hoặc Phòng đẳng sâm (Việt Nam) Campanumoea javanica Blume. Họ Hoa chuông Campanulaceae.

Tính vị: vị ngọt, tính bình, hơi ấm

Quy kinh: vào 2 kinh phế và tỳ

Công năng chủ trị:

– Bổ tỳ vị sinh tân dịch: dùng trong các trường hợp kém ăn, kém ngủ, cơ thể mệt mỏi, miệng khát. Dùng tốt trong các trường hợp trung khí bị hư yếu, gây nên các hiện tượng sa giáng như dạ dày, sa ruột, tử cung, trĩ, lòi dom…có thể phối hợp với các vị thuốc khác như bạch truật, hoàng kỳ, trần bì, thăng ma, sài hồ (trong bài bổ trung ích khí).

– Ích khí bổ phế: dùng trong bệnh ho, khí phế hư nhược hơi thở ngắn, ho hen, suyễn tức, phối hợp với ngũ vị tử, cát cánh, sa sâm.

– Lợi niệu: dùng trong bệnh phù do thận; đặc biệt trong trường hợp nước tiểu có albumin, có thể phối hợp với xa tiền tử, bạch mao căn.

Liều dùng: 12-20g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: đảng sâm có tác dụng làm tăng huyết sắc tố, tăng hồng cầu,
giảm bạch cầu, hạ huyết áp và tăng đường huyết.

Nhân Sâm

NHÂN SÂM dùng rễ của cây nhân sâm Panax ginseng C.A.Mey. Họ Nhân sâm Araliaceae. Nó là một trong bốn vị thuốc đứng đầu của đông y: sâm, nhưng, quế, phụ.

Tính vị: vị ngọt, hơi đắng, tính ấm

Quy kinh: quy vào 2 kinh chính là tỳ và phế, đồng thời thông hành 12 kinh.

Công năng chủ trị:

– Đại bổ nguyên khí, ích huyết, sinh tân dịch, làm khỏe tinh thần, trí não minh mẫn, dùng trong các trường hợp khí hư, kém ăn, bệnh đã lâu ngày, thân thể gầy yếu, mất ngủ, hay quên. Có thể háo khát hoặc trẻ con bị kinh giản, còn dùng nhân sâm khi cơ thể bị bệnh nguy cấp, mạch muốn tuyệt; hoặc sau khi mất máu nhiều; có thể chỉ dùng riêng vị nhân sâm dưới dạng thuốc hãm, gọi là độc sâm thang hoặc sâm phụ thang (nhân sâm 6g, phụ tử 12g); dùng khi cơ thể bị mất máu nhiều, trụy tim mạch, trạng thái vong dương. Khi cơ thể bị khí hư thì phối hợp với bạch linh, bạch truật, cam thảo (bài tứ quân) khi cơ thể yếu mệt, đoản hơi, tâm quý, miệng khát, tân dịch thiếu, hối hợp với mạch môn, ngũ vị tử (bài sinh mạch tán).

– Bổ phế bình suyễn: dùng đối với bệnh ho do phế hư như ho lao, viêm khí quản, phế quản mãn tính có thể phối hợp với thục địa, thiên môn đông (cao tam tài).

– Kiện tỳ sinh tân dịch chỉ khát: dùng khi cơ thể phiền khát, tân dịch, khô kiệt, mắt khô sáp, môi nứt nẻ. Ngoài ra còn dùng trong bệnh huyết áp thấp, cơ thể mệt mỏi đau dạ dày. Nói chung dùng nhân sâm đều cải thiện được hoạt động thể lực và tinh thần chống lại các stress và các tác nhân ảnh hưởng đến sức khỏe.

Liều dùng: 2-12g

Kiêng kỵ: khi bị đau bụng, đi ngoài lỏng hoặc bệnh có thực tà cũng không dùng; những người có huyết áp cao cũng không dùng. Nhân sâm phản lệ lô, úy ngũ linh chi. Khi dùng cần bỏ phần núm đầu rễ, vì phần này có tính chất kích thích cổ họng, gây nôn lợm; chỉ có thể dùng phần đầu rễ nhân sâm làm thuốc long đàm, trừ đàm mà không dùng làm thuốc bổ. Khi dùng có thể sao với nước gừng (đối với thể hư hàn).

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: nhân sâm có tác dụng trấn tĩnh hệ thống thần kinh trung khu, nước sắc có tác dụng làm giảm các hoạt động tự phát của chuôt, thỏ, mèo.

– Hỗn hợp ginsenozit chiết từ nhân sâm có tác dụng ức chế thần kinh kinh trung khu, tác dụng giảm đau; dịch chiết của nhân sâm làm tăng thời gian bơi của chuột, tăng huyết áp (liều nhỏ), hạ huyết áp (liều lớn), ngoài ra còn có tác dụng cường tim ếch, tăng cường sức đề kháng của cơ thể đối với các nguyên nhân độc hại vật lí, hóa học, hạ thấp đường huyết. Đáng chú ý là saponin từ rễ nhánh không có tác dụng tan máu, ở củ hơi tan máu, ở lá thì có tác dụng tan máu.
Với dịch chiết nhân sâm làm huyết áp lúc đầu tăng nhẹ, sau giảm. Ngoài ra còn có tác dụng hạ đường huyết và không ảnh hưởng đến chuyển hóa lipid trong máu

Trầm Hương

TRẦM HƯƠNG là gỗ của cây trầm hương Aquilaria agallocha Roxb, hay cây A.crassna Pierre
ex Lee. A sinensis (Luor) Gilg. Họ Trầm Thymelaeaceae.

Tính vị: vị cay, đắng, tính ấm

Quy kinh: vào 3 kinh tỳ, vị, thận

Công năng chủ trị:

– Giáng khí bình suyễn, dùng đối với trường hợp suyễn tức, nôn nấc, dùng trầm hương 2g, chỉ xác 8g, mộc hương 4g, lai phục tử (hạt cải củ) 12g.

– Ôn trung, chỉ thống, dùng đối với trường hợp hàn ngưng khí trệ, bụng ngực đầy trướng, đau tức hai bên sườn; trầm hương 2g, cam thảo 8g, sa nhân 4g, hương phụ 8g.

Liều dùng: 1-4g

Kiêng kỵ: những người khí hư và âm hư hỏa vượng không nên dùng.

Thanh Bì

THANH BÌ là vỏ quả non rụng hoặc quả còn xanh của cây quýt Citrus reticulata Blanco.
Họ Cam Rutaceae.

Tính vị: vị đắng cay, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can, đởm

Công năng chủ trị:

– Sơ can chỉ thống: dùng khi can khí bị uất kết, dẫn đến đau sườn, đau dây thần kinh liên sườn phối hợp với hương phụ, uất kim, miết giáp. Khi tuyến vú bị sưng đau thì phối hợp với lá quýt, bồ công anh, uất kim.

– Hành khí giảm đau: dùng trong trường hợp sán khí, viêm đau tinh hoàn thoát vị bẹn phối hợp với tiểu hồi, sơn thù du, mộc hương, trường hợp đau sườn ngực khó thở, đau bụng, có thể dùng bột thanh bì, mỗi lần uống 2g ngày 2 lần.

– Kiện vị, thúc đẩy tiêu hóa, ăn ngon miệng: dùng khi tiêu hóa bất chấn, đầy bụng, khí trướng trong ruột, nuốt chua, có thể phối hợp thanh bì 12g, sơn tra, thần khúc mỗi thứ 12g, mạch nha 16g, thảo quả 8g, dưới dạng thuốc sắc.

Liều dùng: 6-12g

Chú ý: khi dùng cần chú ý phân biệt 2 vị thuốc thanh bì và trần bì, cùng nguồn gốc. Trần bì chủ thăng phù, chủ hành khí kiện vị, hóa đàm chỉ ho, táo thấp. Còn thanh bì chủ giáng, tác dụng sơ can lý khí, tiêu tích trệ, đau sườn ngực.