Home Blog Page 26

Bằng Sa

BẰNG SA là natri borat: B10-Na.10H20

Tính vị: vị ngọt mặn, tính lương
Quy kinh: phế, vị

Công năng chủ trị:

– Giải độc: dùng trong các bệnh viêm loét lợi, niêm mạc miệng phồng dộp, lớ loét, hầu họng sưng thũng, đau răng, viêm tai cấp tính; có thế phối hợp với thạch cao sống, nghiền bột mịn đắp vào chỗ loét.

– Trừ đờm chi ho: dùng khi đờm nhiệt ngưng trệ, ho dờm: phối với tang bạch bì, tô tử, cam thảo, làm thuốc hoàn để uống. Hoặc phối hợp với ô mai 2 vị bằng nhau, chữa viêm họng, viêm amidan.

Liều dùng: 1-2g

Uống trong không nên dùng dài ngày.

Chú ý: Do thuốc có độc cho can thận, xu hướng chung là dùng ngoài.

– Có thế phối hợp với phèn phi, berberin dể làm thuốc sinh cơ lên da non, chữa nước ăn chân và bệnh ngứa ngoài da.

Minh Phàn

MINH PHÀN (phèn chua) là nguồn nguyên liệu thiên nhiên (Alumite)-K2SO1. Al2(SO)3.A1 (OH)3. Sau khi chế sẽ cho muối kép nhôm sulphat và kali: K2S01. Al2 (SO4)3. 24 T120

Tính vị: vị chua, tính hàn

Quy hinh: tỳ kinh

Công năng chủ trị:

– Sát khuẩn chi ngứa: dùng với các trường hợp thấp chấn gây lở ngứa;
hoặc ngứa từng đám trên da; hoặc các bệnh ký sinh trùng đường ruột; phối hợp với sà sảng để rửa khi bệnh khí hư bạch đới. Có thế phối hợp với lưu hoàng, thạch cao (nung), thanh đại, hăng phiến; nghiễn bột. Khi dùng thêm dầu lạc, quấy đều thành bột nhão mà bôi vào chỗ ngứa. Ngoài ra còn dùng để chứa rắn cắn.

– Trừ đờm khai bế: dùng với bệnh đau họng, bệnh điên giản, đờm dãi nhiều, phối hợp uất kim. Phèn phi dùng chữa bệnh viêm dạ dày và ruột cấp tính.

– Thanh nhiệt táo thấp: dùng với bệnh hoàng đán, phối hợp với thanh dại

– Chỉ huyết: dùng với bệnh nục huyết, thô huyết, tiện huyết, băng huyết

– Giai độc: dùng với bệnh mụn nhọt ở miệng, tai có mủ, phối hợp với bột chu sa bằng lượng. Thêm dầu vừng làm thành bột nhào để hôi.

Liều dùng: uống từ 1,2-4g

Dùng ngoài lượng vừa phai

Kiêng ky: thế âm hư không dùng

Chú ý:

– Không uống lượng nhiều và thời gian kéo dài

Đại Phong Tử

Dùng quả chín lấy từ hạt của cây đại phong tử-Hydnocarpus anthelmintico Pierr Laness. Họ Chùm bao-Kiggelariaceae

Tính vị: vị cay, tính nhiệt có độc

Công năng chú trị:

– Thanh trừ nhiệt độc do mụn nhọt đinh độc hoặc phong hủi; đặc biệt phong húi có thể phối hợp với ý di, kinh giới, khố sâm, bạch tật lê, thương nhỉ tử, phòng phong, thương truật, bạch phụ từ, quế chi tiêm, đương quy, tần cứu, tiêu hồi, thiên niên kiện, bạch linh, uy linh tiên, xuyên khung, câu đằng, mộc qua, sơn tri tử, tri mẫu, xuyên ngưu tất, hà thủ ô, thanh mông thạch, bạch hoa xà, tất cả nghiền bột mịn, thêm nước làm hoàn nhỏ. Mồi lần dùng 4g, ngày 2 lần. Uống thời kỳ dài, kiêng thức ăn lạnh.

– Sát khuấn  ngứa

– Dùng khi bị ngứa ngoài da, ngứa từng đám trên da. Phối hợp với khổ sâm, hùng hoàng, xuyên tiêu, bạch phàn, bạc hà, long não, băng phiến. Ngâm với cồn 75′. Sau 3 tuần lấy đế bôi chỗ bị ngứa.

Liêu dùng: dùng uống 1,2-2g

Dùng ngoài lượng vừa đủ

Kiêng kỵ: những thể âm hư nội nhiệt không dùng

Sà Sàng Tử

Quả chín phơi khô của cây sà sàng-Cnidium monieri L. Họ Hoa tán-Apiaceae

Tính vị: vị cay, đắng, tính ôn

Quy kinh: thận

Công năng chủ trị:

– Sát khuẩn chỉ ngứa: dùng khi ngứa ngoài da, ngứa do côn trùng (mạt, din…) cắn hoặc phụ nữ ngứa do trùng roi âm đạo, hoặc âm nang rất ngứa; phối hợp với hoàng liên, khinh phấn chữa tai ngứa. Có thể dùng phối hợp với chút chít, qui vì, uy linh tiên, khổ sâm. Sắc nước ngâm rửa vào chỗ bị ngứa; hoặc sà sàng từ phối hợp với phèn chua, nghiền mịn, thêm nước đánh đều thành bột nhào mà bôi vào chỗ ngứa. Ngoài ra còn phối hợp với cam thảo băng lượng tán bột uống chữa lòi dom.

– Ôn thận tráng dương: dùng trong các trường hợp liệt dương phối hợp với nhục thung dung, dâm hương hoắc, thở ty tử (minh mạng thang). Hoặc dùng cho phụ nữ tử cung lạnh dẫn đến khó thụ thai, phối hợp với ngủ vị tử, thỏ ty tư.

Liều dùng: 6-12g

Kiêng kỵ: những người âm hư, hoa vượng không dùng

Chú ý:

– Vị thuốc hay được dùng chữa các bệnh ngoài da, chứa rán cắn.

Hùng Hoàng

HÙNG HOÀNG là khoáng thạch trong đó có asen

Tính vị: vị cay, đắng, tính ấm, có độc

Quy hinh: can, vị

Công năng chủ trị:

– Sát khuẩn chống ngứa: dùng khi da bị ngứa, có thể ngứa từng đám trên da, dùng hùng hoàng 8g cùng với sâu ban miêu 12g, ngâm giấm 3 ngày. Lấy dịch chiết bôi vào chỗ ngứa.

– Giải dộc sát khuẩn: dùng đối với các trường hợp lờ loét ngoài da, vệt rắn cắn, côn trùng cắn, có thể phối hợp với mẫu lệ (đã nung) cho mật ong vào dánh nhuyễn, bôi vào chỗ bị thương; hoặc hòà với giấm bôi chữa lông mày rụng.

– Khử dờm khai bế: dùng trong các trường hợp phong tý, trẻ con bị kinh giản đờm tắc cố họng; phối hợp với uất kim, ba đậu sương, nghiền bột mịn, nấu với giấm thành dạng hồ nhuyễn làm viên hoàn (kích thước viên hoàn to bằng hạt đậu xanh), ngày 2-5 viên. Ngoài ra còn dùng chữa cam rắng, cam tẩu mã.

Liều dùng: nếu uống trong dùng lượng 0,4-1,6g

Kiêng kỵ: không nên sắc với thời gian kéo dài

Dùng ngoài lượng vừa đú

Những người âm hư, huyết hư, phụ nữ có thai không được dùng uống

Chú ý:

– Cần phân biệt 3 loại hùng hoàng: loại tốt có màu đỏ gọi là hùng tinh, loại 2 màu hồng gọi là yêu hoàng, loại 3 màu hai xám đen gọi là thư hoàng (orpiment)

Thạch Lựu Bì

THẠCH LỰU BÌ là dùng vó rễ và vo quả phơi khô của cây lựu-Punica granatum L. Họ Lựu-
Punicaceae

Tính vị: vị chua, chát, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh vị và đại tràng

Công năng chủ trị:

– Khử trùng đối với sán dây, sán sơ mít, giun móc, giun đùa, dùng vỏ cây lựu 12-16g (đối với người lớn) sắc bỏ bã, cho thêm đường, uống lúc đói, ngày 1 lần, uống liền trong 3 ngày; hoặc rễ lựu 50g, hạt bí ngô 150g, hạt cau 50g sắc uống (khi đi ngoài thì ngâm hậu môn vào chậu nước ấm 37°C để sán ra hết mới thôi)

– Thanh hầu họng: dùng trong bệnh đau họng, viêm amidan, miệng lười sinh viêm, viêm xoang miệng: quã lựu tươi 1-2 quả, lấy hạt có mang thịt, đập giập ra, ngâm với nước sôi, lọc để nguội ngậm súc nhiều lần.

– Thanh thấp nhiệt ở đại tràng: dùng trong bệnh ly. đau bụng, đại tiện long làu ngày, dùng vỏ qua lựu khô, sao tôn tính, nghiền mịn uống lúc đói 1-8g với nước cơm.

Chú ý:

– Chú ý dùng lá lựu tươi 940g)-sắc rửa mắt khi viêm kết mạc cấp tính

– Tác dụng dược lý: alcaloid trong rễ lựu có tác dụng trừ sán, nước sắc vỏ rề, vó cành đều có tác dụng làm tê liệt các hoạt động của giun sán.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc rẻ võ lựu có tác dụng sát khuẩn mạnh, với trực khuân thương hàn, vi khuân hắc loạn, tụ cầu khuẩn, trực khuẩn lao; ngoài ra còn ức chế nấm ngoài da.

Tỏi

TỎI (đại toán) Dùng giò của cây tỏi, củ tỏi-Allium satirum L. Họ Hành-Liliaceac Tính vị: vị cay, tính ấm

Quy hinh: vào 2 kinh tỳ và vị

Công năng chủ trị:

– Sát trùng, trị giun, dùng trong trường hợp có giun kim, hoặc trùng roi âm đạo gây viêm, hoặc giun móc câu, ngoài ra còn dùng trị bệnh ly amip. Có thể dùng như sau: tói bóc vỏ ngoài 100g, già nát thêm 1000ml nước, ngâm 24 giờ bó bà, trước khi đi ngú, dùng nước đó rửa hậu môn, làm liền 7 ngày sẽ trị được giun kim và bệnh ngứa hậu môn, hoặc dùng tỏi gia nất trộn với vaselin mà bôi.

– Kiện tỳ vị: dùng khi ăn uống không tiêu, dùng 1-5 nhánh tỏi sống mà nuốt hoặc lấy 1 củ con bóc vó ngoài rồi nhét vào hậu môn gây trung tiện là khỏi trướng bụng.

– Trừ đờm, chi ho: còn dùng chữa ho gà viêm khí quan mạn tính dùng 1
củ tỏi, sắc (sấp 2 lần) chừng 5 phút, lọc thêm chút đường cho uống, ngày 2-3 lần cũng có thế đem tỏi già nát ra, trước khi đi ngủ dán vào hai lòng bàn chân, làm 3-5 tối; cũng có thế làm đối với người ho nặng vào ban đêm. Ngoài ra còn dùng cho người ho lao, thái miếng tỏi dặt lên huyệt đại chuỳ, rồi dùng ngài nhung mà cứu gián tiếp.

– Hạ áp: dùng trong bệnh cao huyết áp, mỗi ngày vào buôi sáng, lúc đói án vài nhánh, ăn xong uống chút nước, chút giấm và đường, ăn liền 10-15 ngày, huyết áp sẽ hạ xuống.

– Giai độc: dùng với mụn nhọt, rắn rết cắn, lấy nhánh tôi giã nát đắp vào vết thương; hoặc chữa các bệnh ngửa, bệnh mùa đông nứt nẻ, viêm nhiềm ngoài da.

– Lợi niệu tiêu phù: dùng đối với phù nề, tiểu tiện khó khăn.

– Phòng bệnh cúm: dịch ngâm tỏi, nhỏ mùi hàng ngày vào buôi sáng và lối, ngoài ra còn dùng phòng bệnh sốt rét.

– Cầm máu: đối với cháy máu mùi, hoặc chảy máu của bộ phận phía trên đường tiêu hóá (thực quản, dạ dày) tói sống 2-3 nhánh, già nát, cho vào miếng vài, rồi đặt vào huyệt dũng tuyển ở hai lòng bàn chân (cháy ở lỗ mũi bên nào thì băng vào lòng bàn chân bên đó).

Liều dùng: 12-20g

Chú ý:

– Có thê dùng tỏi dưới dạng ngâm rượu, uống chữa các bệnh mạn tinh nối trên

– Tác dụng kháng sinh: dịch tỏi có tác dụng với trực khuẩn lao, tụ cầu, liên cầu khuẩn, lỵ trực khuẩn.

– Tỏi có tác dụng hạ cholesterol trong máu.

Quán Chúng

Dùng thân rễ còn sót cuống lại của cây quán chúng-Cyrtomyum fortunei J. Sm. Họ Ráng-Polypodiaceae

Tính vị: vị dắng, tính hơi hàn, có ít độc

Quy kinh: nhập kinh tỳ và can

Công năng chú trị:

– Khử trùng, tiêu ích: dùng đối với giun móc câu, giun đũa, giun kim, sán dây, có thể dùng quán chúng 16g, sắc uống trị giun đủa và giun kim. Hoặc nước sắc của 40g quán chúng dùng rửa hậu môn trước khi đi ngủ để điều trị giun kim.

– Lương huyết cầm máu: dùng đối với chứng huyết nhiệt gây thổ huyết, xuất huyết do ly, tử cung xuất huyết dùng quán chúng sao tồn tính, phối hợp với đẳng sâm.

– Giải độc, sát khuẩn: có thể dùng quán chúng để dự phòng bệnh căm cúm và trị bệnh sởi. Có thể phối hợp với kim ngân hoa.

Liều dùng: 1-16g

Kiêng kỵ: những người ở thê hư hàn và phụ nữ có thai không nên dùng

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: từ loài quán chúng Dryopteris crassirhizoma Nakai có tác dụng làm tê liệt đối với sán dây. Muối Mg của chất filicin (có trong thành phân hóá học của quán chúng), có khả năng diệt khuẩn hiệu quả cao 5-7 lần so với bột. Dịch chiết bằng ete của nó đối với tử cung cô lập của thỏ có tác dụng tăng co bóp.

Binh Lang

Là hạt quả già của cây cau-Areca cotechu L. Ho Cau-Arecacene

Tinh vị: vị cay, đảng, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh vị, đại tràng

Công năng chủ trị

– Khử trùng, tiêu tích: dùng chủ yếu với sán dây, sán sơ mít, n đũa giun kim, dùng trong các trường hợp bụng đầy tích, đau da các nguyên nhân trên. Có thể phối hợp với hạt bí ngô mỗi thứ 40g, có thế sắc riêng nh lang rồi dùng nước sắc uống với bột hạt bí ngô, hoặc dùng binh lang 14 hat, tán nhỏ, vỏ quả cau (đại phúc bì) thì sắc lấy nước (một bát. Lấy bột hạt cau 20g hòa với nước đó mà uống vào lúc i. Nếu uống vào mà sán vẫn chưa ra ta uống tiếp một liều như trên; hoặc binh lang 20g, võ cây hợn, hạt bĩ ngô mãu thứ 12g.

– Sát trùng chữa sốt rét: Binh lang 20g. ng sơn 60g. thảo quả 20g. củ sắn dây 30g

– Lợi thủy tiêu phù: dùng trong các trường hợp tiếu tiện khó khăn, đái buốt, phù nề, đặc biệt đối với bệnh hàn thấp cước khí chân phù, ngực bí bích, buồn nôn, dùng bạt cau 20g, mạch môn 20g, sắc uống.

– Hành khí thông tiện: dùng khi khí trệ, đại tiện bí táo, bụng đẩy trướng, khó tiêu, hạt cau già tán mịn, mỗi lần uống 8g, sắc lên, thêm mật ong trộn đều uống.

Liều dùng: 8-24g

Kiêng kỵ: vị thuốc có sức hành khí phá khí tương đối mạnh, những cơ thế hư nhược không nên dùng.

Chú ý:

– Alcaloid toàn phần của binh lang còn được dùng trong nhân khoa

– Tác dụng dược lý: arecolin, alcaloid chính trong hạt cau làm tăng tiết dịch tiêu hóa, co đồng từ, tăng nhu động ruột. Nước sắc hạt cau làm tê liệt cơ trơn của sán.

Sử Quân Tử

SỬ QUÂN TỬ dùng hạt quả của cây sử quân từ-Quisqualis indica L. Họ Bàng-Combre-taceae. Sử quân tử có mọc và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta vào tháng 9-10, khi vỏ quả biến thành mẫu đen tím thì hái lấy quả, phơi khô. Sau đó bóc lấy hạt mà uống, cần bỏ các màng đen của hạt.

Tính vị: vị ngọt, tính ấm

Quy kinh: vào tỳ vị

Công năng chủ trị:

– Khử trùng tiêu ích: dùng đối với giun đủa, giun kim, sử quân tử sao vàng. Người lớn mỗi ngày dùng 10-20 hạt, trẻ con mỗi tuổi một hạt, song không vượt quá 20 hạt, ngày uống một lần, uống liền trong 3 ngày. Hoặc dùng sử quân tứ 2g, binh lang, chỉ xác mỗi thứ 12g, ô mai 4g, mộc hương 8g, cũng có thể dùng sử quân tử 120g, mộc hương 80 hạt, hạt cau già 160g, hạt bìm bìm 100g, làm thành viên hoàn, người lớn 12g/ngày, trẻ em 3-6 tuổi dùng 3-4g, 8-12 tuổi 6-8g.

– Kiện tỳ: dùng phối hợp với trẻ em bị cam tích, bụng ông, đít vòn, da xanh, mặt mũi nhoèn dử có trong phương phì nhi cam tích (sử quân tử kết hợp với thuốc kiện tỳ tiêu đạo)

– Thanh thấp nhiệt ở bàng quang: dùng khi nước tiểu bị trắng dục

Liều dùng: 4-16g

Chu ý:

– Khi liều dùng cao, hoặc dùng với nước chè, hoặc chưa bóc vỏ, có thể dẫn đến nấc, chóng mặt, buồn nôn.

– Tác dụng dược lý: nước ngâm hoặc dịch chiết bằng cổn với nồng độ 36%, đối với giun lợn ở môi trường nuôi dưỡng đảm bảo nhiệt độ thích hợp, đều bị tê liệt sau 5 phút. Dầu sử quân tử với nồng độ 40% qua 30 phút không làm cho giun lợn bị tê liệt. Sau khi ép bỏ dầu đi dịch ngâm với nồng độ 19% sau 3 phút làm tê liệt giun lợn. Dịch sắc 100% của lá, nhân bạt, vó quá đều có tac dụng làm tê liệt giun lợn. Tác dụng ở lá mạnh hơn ở nhân và vỏ quả.

– Muối kali của acid quisqualis có trong sử quân tử có thể làm cho giun đất chết trong 8 giờ, đối với giun lợn có tác dụng ức chế.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc 10% của nhân hạt có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn đại tràng. Chất kháng khuẩn tan ở trong nước không bị nhiệt độ phá huỷ.