Home Blog Page 37

Sa Sâm

SA SÂM (Bắc) Dùng rễ của cây bắc sa sâm Glehnia littoralis Fr. Schmidt et Miq. Họ Hoa tán
Apiaceae (hiện có bán trên thị trường Việt Nam).

Tính vị: vị ngọt, đắng, tính hơi hàn

Quy kinh: vào 2 kinh phế và vị

Công năng chủ trị:

– Dưỡng âm thanh phế: trị chức năng của phế âm suy kiệt, lúc sốt, lúc nóng, ho khan, ho có đờm khó khạc ra, thường phối hợp với mạch môn, thiên môn; có thể dùng sa sâm phối hợp với một số vị thuốc khác để dưỡng âm thanh phế, trong thời kỳ đầu của thủy đậu đã xẹp: sa sâm, sinh địa, vỏ đậu xanh, vỏ đậu đen, bạch biển đậu mỗi thứ 12g, hoàng tinh, lá dâu, mạch môn, cam thảo dây mỗi thứ 10g.

– Dưỡng vị, sinh tân dịch: dùng trị các bệnh của dạ dày do thương tổn phần âm dẫn đến biểu hiện họng kho ráo, lưỡi đỏ, thường phối hợp với sinh địa, mạch môn đông.

– Nhuận tràng thông tiện: dùng rễ phơi khô, sao vàng sắc uống.

Liều dùng: 12-20g

Chú ý: cần phân biệt với các cây cũng gọi là sa sâm như cây Adenophora verticillata Fisch, thuộc họ hoa chuông (còn gọi là tử diệp sa nhân) và cây tế diệp sa sâm Campanula vincaeflora Vent.

Bách Hợp

BÁCH HỢP là giò phơi khô của cây bách hợp Lilium brownii F.E.Brow .ex Mill. Họ Hành
Liliaceae.

Tính vị: vị ngọt, nhạt, mát

Quy kinh: vào 3 kinh tâm, phế, tỳ

Công năng chủ trị:

– Dưỡng tâm nhuận phế: dùng chữa ho, ho ra máu, nôn ra máu, trong đờm có máu, viêm phế quản mãn tính.

– Dưỡng tâm an thần: dùng khi tâm hồi hộp, tâm phiền: nhất là sau khi ốm dậy có thể phối hợp bách hợp 24g, tri mẫu 12g sắc uống.

– Bổ trung ích khí, kiện vị, trướng khí, chữa đau tim.

– Nhuận tràng, lợi đại tiểu tiện: dùng khi phế nhiệt dẫn đến địa tiện bí kết, tiểu tiện ngắn đỏ.

– Giải độc chống viêm: dùng chữa mụn nhọt sưng đau. Ngoài ra còn chữa viêm dạ dày, ợ chua, bách hợp 40g, ô dược 12g. Liều dùng 6 – 12g nếu ho do phong hàn không nên dùng, tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng, không dùng.

Liều dùng: 6- 12g.

Thiên Môn Đông

THIÊN MÔN ĐÔNG (Rễ củ) dùng củ của cây thiên môn đông Aspagagus cochinchinensis (Lour) Merr. Họ Thiên môn đông Asparagaceae.

Tính vị: vị ngọt, đắng, tính hàn

Quy kinh: vào 2 kinh phế và thận

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt hóa đờm, dưỡng tâm, thanh phế: dùng trị phế âm, khi chức năng bị suy nhược, ho lâu ngày, ho khan, hoặc ho có đờm khó khạc ra. Dùng để trị viêm phổi hoặc ho gà: dùng thiên môn, mạch môn mỗi thứ 20g, bách bộ 12g, trần bì 8g, cam thảo 8g để chữa ho gà có hiệu quả.

– Dưỡng vị sinh tân: dùng cho các trường hợp sau khi ốm dậy, tân dịch hao tổn, miệng khát, dùng thiên môn đông để tư âm nhuận táo. Có thể dùng bài thuốc mang tên cao tam tài gồm 3 vị: nhân sâm 4g, thiên môn đông 10g, thục địa 10g, để bồi hổ cơ thể, bổ phế và bổ thận âm.

– Dưỡng tâm âm: dùng trị bệnh âm trong trường hợp tâm huyết không đủ, tim đập loạn nhịp, hồi hộp, ngắn hơi, vô lực, lưỡi miệng sinh mụn nhọt, mồ hôi nhiều có thể bổ tâm huyết, an thần: dùng thiên môn đông 16g, liên tâm 8g, liên nhục 12g, sinh địa 20g, thục địa 20g, đạm trúc diệp 30g, đăng tâm thảo, thảo quyết minh 12g, bá tử nhân 12g. Chữa lở miệng dùng thiên môn, mạch môn, huyền sâm bằng lượng. Sắc uống.

– Nhuận tràng, dùng trong các trường hợp cơ thể háo khát, dẫn đến đại tiện bí táo.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người tỳ vị hư hàn, ỉa chảy không nên dùng.

Chú ý:

– Ngoài thiên môn đông, còn có vị thuốc mạch môn đông là rễ của cây Ophiopogon japonicus Wall. Tính vị ngọt, bình có tác dụng ức vị, sinh tân, dưỡng âm, thoái nhiệt, xúc tiến âm bình dương bế, uống lâu làm cơ thể hoạt bát, nhuận phế, trị ho.

– Tác dụng dược lý: dịch sắc mạch môn đông có tác dụng chỉ ho.

– Tác dụng kháng khuẩn: mạch môn đông có tác dụng ức chế B.subtilis còn thiên môn đông tác dụng ức chế B.subtilis, Escherichia coli, Sal. Typhi và trực khuẩn lỵ.

Hoàng Tinh

HOÀNG TINH dùng củ của cây hoàng tinh Polygonatum kingianum Coll et Hemsl. Họ Tóc
tiên Convallariaceae.

Tính vị: vị ngọt, tính bình

Quy kinh: vào 3 kinh tỳ, phế, vị

Công năng chủ trị:

– Nhuận phế, sinh tân dịch: dùng trong các trường hợp phế háo, các chứng ho khan, bệnh ho lao. Bệnh lao ở thời kỳ đầu có thể dùng hoàng tinh 20g, sa sâm 8g, ý dĩ 12g, dưới dạng thuốc sắc. Khi đã ho ra máu: hoàng tinh, bách bộ, bạch cập mỗi thứ 250g, tán bột mịn, ngày uống 3 lần mỗi lần 8g. Đối với bênh tiêu khát, tân dịch hao tổn nặng thì dùng hoàn tinh phối hợp với sinh địa, hoài sơn, tang diệp.

– Bổ tỳ, kiện vị: dùng trong các bệnh mà tỳ vị hư yếu, tân dịch thiếu.

– Bổ máu: dùng trong các bệnh thiếu máu, các trường hợp sau ốm dậy, da còn xanh xao, gầy còm, hoặc dùng cho người già huyết dịch khô kiệt, có thể phối hợp với hoàng tinh, câu kỷ tử, thục địa, hà thủ ô.

Liều dùng: 8-12g

Chú ý:

– Sau khi thu hoạch, hoàng tinh cần phải nấu nhiều lần để loại các chất kích thích, các chất gây tê ngứa và sau đó cần qua chế biến để có hàng tinh màu đen như thục địa. Còn dùng cây ngọc trúc (hoàng tinh ngọc trúc) Polygonatum officinale, cùng họ làm thuốc bổ âm, cơ thể suy nhược ra nhiều mồ hôi.

– Tác dung dược lý: hoàng tinh có tác dụng hạ huyết áp trên động vật thí nghiệm đã gây mê. Có tác dụng ức chế đường huyết quá cao; tiêm liều lớn làm tê liệt trung khu thần kinh.

– Tác dụng kháng khuẩn: hoàng kinh có tác dụng ức chế một số vi khuẩn.

Long Nhãn

LONG NHÃN Là áo hạt (qua chế biến) của quả cây nhãn Dimocarpus longan Lour. Họ Bồ hòn Sapindaceae. Nhãn dược trồng ở nhiều vùng trong nước ta. Dùng chế biến long nhãn
người ta thường chọn nhãn nước, nhãn lồng, nhãn quả to, cùi dày, mọng và ngọt.

Tính vị: vị ngọt, tính bình

Quy kinh: vào 2 kinh tâm, tỳ

Công năng chủ trị:

– Bổ huyết dùng trong các trường hợp thiếu máu, cơ thể suy nhược, yếu mệt, thể trạng ngày càng giảm, đoản hơi. phối hợp với đương quy, hoàng kỳ, thục địa.

– An thần, ích trí dùng trong trường hợp mất ngủ, trí nhớ suy giảm hay quên, lo nghĩ quá nhiều mà dẫn đến tâm hồi hộp, tim loạn nhịp, tim đập dồn dập (tâm quý), người choáng váng, chóng mặt, phối hợp với câu đằng, toan táo nhân, thục địa.

– Bổ tỳ, kiện, vị, dùng trong trường hợp tỳ hư, ăn uống tiêu hóa kém, phối hợp với bạch truật, hoài sơn, ý dĩ, liên nhục, phục thần, cam thảo.

Liều dùng: 4-12g

Chú ý:

– Hạt nhãn được dùng trong các trường hợp mụn nhọt chốc lở, đặc biệt ngứa ở kẽ chân hoặc trẻ con chốc đầu. Lấy hạt nhãn bỏ vỏ đen, thái mỏng, tán bột rắc vào chỗ sang lở; có thể dùng riêng hoặc phối hợp với bột bàng xa bằng lượng; cũng có thể dùng bột than của hạt nhãn rắc vào các mụn lở ở trẻ em, sau khi đã gột sạch nhớt.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc long nhãn có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn lỵ.

Tử Hà Sa

TỬ HÀ SA (Rau thai nhi) Trước hết cần chọn rau ở người khỏe mạnh, không có tiền sử của bệnh truyền nhiễm (lao, giang mai v.v…) rau thai được chọn phải là cuống nhỏ, rau nhỏ, bề mặt rau trơn bóng, hồng nhuận. Sau đó phải qua một quá trình chế biến như chưng, đồ, sấy.

Tính vị: vị ngọt, mặn, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can, thận

Công năng chủ trị:

– Bổ khí, dưỡng huyết, dùng trong các trường hợp thiếu máu, cơ thể suy nhược, gầy yếu, mất ngủ, hay quên, công năng của não suy giảm.

– Ích thận, cố tinh, dùng trong bệnh do tinh ở thận hao tổn, các chứng di tinh, liệt dương, không có khả năng sinh dục, phụ nữ kinh nguyệt không đều, các bệnh của tử cung, sau khi đẻ thiếu sữa.

– Bổ phế, dùng trong bệnh lao phổi, bênh hen suyễn.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người có thực tà thì không dùng

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: thuốc có tác dụng làm cho trứng phát dục, tuyến vú phân tiết, tăng cường sức đề kháng cơ thể.

– Khi dùng cần qua kiểm nghiệm chặt chẽ vi trùng, siêu vi trùng.

Tang Thầm

TANG THẦM (Quả dâu chín) Là quả chín của cây dâu tằm Morus alba L. Họ Dâu tằm Moraceae

Tính vị: vị ngọt, chua, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can và thận

Công năng chủ trị:

– Dưỡng huyết, an thân: dùng trong các bệnh thiếu máu, da xanh, người gầy, mắt mỏ, chóng mặt, mất ngủ. Có thể dùng quả dâu chín chế thành siro dâu, hoặc rượu dâu.

– Bổ gan, thận, dùng trong các bệnh mà chức năng gan, thận suy gây ù tai, di tinh.

– Sinh tân chỉ khát, dùng khi cơ thể phiền khát, miệng và môi khô sáp, người lúc nào cũng háo, khát nước; dùng chữa bệnh đái tháo đường, bệnh tràng nhạc.

– Nhuận tràng, dùng trong các trường hợp đại tiện bí táo.

Liều dùng: 12-20g

Kiêng kỵ: những người tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng không nên dùng

Cao Ban Long

CAO BAN LONG là sản phẩm, chế bằng cách nấu từ gạc hươu, nai đực Cervus unicolor Cuv. Họ Hươu Cervidae.

Tính vị: vị ngọt, tính bình

Quy kinh: vào 3 kinh phế, can, thận

Công năng chủ trị:

– Bổ huyết, dùng trong các bệnh thiếu máu, da xanh xao, cơ thể gầy yếu, mất máu sau phẫu thuật, do bị thương sốt rét, chảy máu dạ dày ruột, chảy máu cam, thổ huyết, phụ nữ kinh nguyệt quá nhiều; hoặc cơ thể già yếu mệt có thể dùng 40g cao ban long và 50g long nhãn (trong bài nhị long ẩm).

– Bổ phế dùng trong các trường hợp ho ra máu, các bệnh lao, cơ thể thiếu máu, lao tủy, lao xương v.v…dùng đều cho kết quả tốt

– Cố thận, thêm tinh, dùng trong các trường hợp khí ở thận không đủ mà dẫn đến lưng đau, gối mỏi, di tinh.

– An thai, dùn trong các trường hợp động thai chảy máu.

Liều dùng: 4-6g

Chú ý:

Ngoài cao ban long ra, cao chế từ xương các động vật cũng có những mặt tác dụng tương tự. Ví dụ cao hổ cốt, cao gấu, ngoài tác dụng bổ máu, cầm máu còn có tác dụng mạnh gân cốt, chữa chứng đau xương, đau khớp. Cao ngũ cốt (cao nấu từ 5 loại xương động vật như trâu, bò, chó, gà, mèo, lợn) cũng có tác dụng bổ máu, bổ xương cốt, cầm máu. Do đó cần thu nhặt, chế biến để nấu cao

Hà Thủ Ô Đỏ

HÀ THỦ Ô ĐỎ dùng rễ của cây hà thủ ô đỏ Fallopia multiflora Thunb. Haraldson. Họ Rau răm Polygonaceae là cây cỏ mọc hoang tương đối nhiều ở một số huyện của Hoàng Liên
Sơn, hiện nay đã trồng bước đầu có kết quả.

Tính vị: vị đắng, chát, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can, thận

Công năng chủ trị:

– Bổ khí huyết, dùng trong trường hợp khí huyết đều hư, cơ thể mệt nhọc vô lực, thở ngắn hơi, thiếu máu, da xanh gầy khô sáp, chóng mặt, nhức đầu, râu tóc sớm bạc, ra mồ hôi trộm, tim loạn nhịp, mất ngủ, có thể phối hợp với thục địa, long nhãn, đảng sâm, bạch thược.

– Bổ thận âm, dùng khi chức năng thận âm kém, dẫn đến lưng đau, di tinh, liệt dương, phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt không đều, có thể dùng bài thuốc sau: hà thủ ô 40g, hương phụ 40g, ngải cứu 16g, củ gai 20g, lá sung 40g, ích mẫu 20g, đậu đen 40g.

– Giải độc chống viêm: dùng trong các trường hợp mụn nhọt, thấp chẩn lở ngứa; còn dùng để trị bệnh tràng nhạc (loa lịch) và điều trị viêm gan mãn tính.

– Nhuận tràng thông tiện: dùng trong các trường hợp thiếu máu vô lực mà dẫn đến đại tiện bí táo. Ngoài ra còn dùng chữa trĩ, đi ngoài ra máu có kết quả tốt.

– Dây hà thủ ô (dạ giao đằng) có tác dụng an thần gây ngủ rất tốt; cần thu hái tránh lãng phí.

Liều dùng: 20-40g

Chú ý:

– Hà thủ ô đỏ chưa qua chế biến vị chát se; khi dùng cần ngâm với nước gạo rồi chế với nước sắc đậu đen.

– Tác dụng dược lý: antraglycozid trong hà thủ ô đỏ có tác dụng làm tăng như động của ruột và dạ dày (do đó mà có thể kích thích tiêu hóa, kiện vị). Hà thủ ô đỏ còn có tác dụng gây hưng phấn tim. Chất lexetin có trong hà thủ ô đỏ có tác dụng bổ thần kinh; có khả năng làm cho mất cholesterol trầm tích trong gan làm giảm tác dụng xơ cứng động mạch. Dịch chiết hà thủ ô đỏ làm tăng cao lượng đường glycogen tích lũy trong gan ở những chuột thí nghiệm đã cắt ỏ tuyến thượng thận.

– Tác dụng kháng khuẩn: với nồng độ pha loãng của dịch chiết 1/100 có tác dụng ức chế trực khuẩn lao. Ngoài ra còn có tác dụng ức chế Staphylococcus aureus, Streptococcus.

– Khi thu hái cần có ý thức giâm lại dây để cây thuốc tiếp tục phát triển.

Đương Quy

ĐƯƠNG QUY dùng rễ của cây đương quy Angelica sinensis (Oliv) Diels. Họ Hoa tán
Apiaceae.

Tính vị: vị ngọt, hơi đăng, tính ấm

Quy kinh: vào 3 kinh tâm, can, tỳ

Công năng chủ trị:

– Bổ huyết, bổ ngũ tạng, bổ huyết trong các trường hợp thiếu máu dẫn đến hoa mắt, chóng mặt, da dẻ xanh xao, người gầy yếu. Phối hợp với xuyên khung, bạch thược, cam thảo (trong bài tứ vật thang).

– Hoạt huyết, giải uất kết là vị thuốc vừa bổ huyết vừa hoạt huyết cho nên dùng thích hợp cho các trường hợp thiếu máu, kèm theo có ứ tích của phụ nữ có kinh bế, vô sinh, phối hợp với bạch thược, xa tiền tử. Nếu đau cơ đau khớp ứ huyết thì phối hợp với thuốc hoạt huyết như hồng hoa, ngưu tất. Nếu đau đầu dữ dội thì dùng đương quy trích rượu.

– Hoạt tràng thông tiện: vị thuốc có tác dụng nhu nhuận với vị tràng; do đó dùng thích hợp với chứng huyết hư huyết táo gây táo bón. Phối hợp với thảo quyết minh, thục địa.

– Giải độc dùng trong trường hợp mụn nhọt, đinh độc vì thuốc vừa có tác dụng giải độc lại có tác dụng giảm đau do khả năng hoạt huyết, tiêu trừ huyết ứ của nó.

Liều dùng: 6-20g

Kiêng kỵ: những người có tỳ vị thấp nhiệt, đại tiện lỏng, không nên dùng; để tránh hiện tượng gây hoạt tràng, đại tiện lỏng, khi dùng cần qua sao chế để giảm tính nhuận hoạt của vị thuốc.

Chú ý:

– Theo kinh nghiệm dùng đương quy, người ta thấy rằng phần đầu của củ đương quy (quy đầu), có tác dụng cầm máu, phần giữa (quy thân) có tác dụng bổ máu, phần đuôi (quy vĩ) có tác dụng hành huyết. Do đó cần lưu ý khi sử dụng nó.

– Tác dụng dược lý: từ đương quy người ta biết được có hai loại thành phần vừa ức hế vừa gây hưng phấn tử cung; phần ức chế, chủ yếu là tinh dầu, phần hưng phấn là phần tan trong nước. Dùng bột đương quy (5% so với lượng thức), nuôi chuột trong 4 tuần, thấy rằng lượng tiêu hao oxy của tổ chức gan tăng lên; và xúc tiến sự tăng sinh của tử cung. Nước sắc và dạng chiết cồn, có tác dụng hạ huyết áp đối với chó đã gây mê. Nước sắc và dịch chiết bằng ete có tác dụng trấn tĩnh. Đương quy còn có tác dụng hồi phục đối với bệnh thoái hóa tinh hoàn. tác dụng ức chế quá trình đông máu đặc biệt là đông máu nội sinh.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc đương quy có tác dụng ức chế trực khuẩn dịch hạc, trực khuẩn biến hình, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, vi khuẩn hoắc loạn