Home Blog Page 38

Thục Địa

THỤC ĐỊA là sản phẩm được chế biến từ sinh địa. Sinh địa là sản phẩm đã qua chế biến từ
rễ sinh địa hoàng Rhmannia glutinosa Gaertn. Họ Hoa mõm sói Scrophulariaceae.

Tính vị: vị ngọt, tính ấm

Quy kinh: vào 3 kinh tâm, can, thận

Công năng chủ trị:

– Tư âm, dưỡng huyết dùng trong trường hợp thiếu máu, chóng mặt, đau đầu, tân dịch khô sáp, mắt khô rom, nứt nẻ môi, râu tóc sớm bạc, lưng đau, gối mỏi khi dùng phối hợp với hà thủ ô, đương qui, câu kỷ tử.

– Sinh tân dịch, chỉ khát, dùng trong bệnh tân dịch hao tổn, háo khát phối hợp với hoài sơn, tri mẫu, hoàng liên ngũ vị tử (còn có trong thành phần lục vị hoàn).

– Nuôi dưỡng và bộ thận âm, dùng trong các trường hợp chức năng thận âm kém (thận âm bất túc), dẫn đến ù tai, di mộng tinh, tự hãn, phụ nữ kinh nguyệt không đều, huyết hư sinh đau đầu; phối hợp cúc hoa, mạn kinh, đương quy.

Liều dùng: 12-20g

Chú ý:

– Những người tỳ vị hư hàn không nên dùng. Dùng thục địa lâu dễ ảnh hưởng
đến tiêu hóa, do đó khi dùng có thể phối hợp thêm thuốc hành khí như trần bì, hương
phụ để tránh hiện tượng đầy bụng.

Ô Tặc Cốt

Ô TẶC CỐT Là mai cá mực Sepia esculenta Hoyle. Họ Cá mực Sepiadae.

Tính vị: vị mặn, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can, thận

Công năng chủ trị:

– Chỉ huyết, dùng đối với bệnh chảy máu bên trong như đại tiện ra máu, trĩ chảy máu, phụ nữ băng lậu, phổi và dạ dày chảy máu; người ra còn dùng chữa chảy máu vết thương bên ngoài. Có thể phối hợp với tam thất, trắc bách diệp.

– Chống viêm, dùng trong bệnh viêm loét dạ dày tá tràng. Ô tặc cốt có tác dụng giảm bớt độ acid của dạ dày.

– Bổ thận cố tinh: dùng đối với nam giới thận hư, tinh kiệt, nữ giới can huyết khí táo, khó thụ thai, có thể phối hợp với kim anh, kiếm thực, ngũ vị tử.

– Lên da non và làm vêt thương chóng lành, dùng bột đã tán nhỏ, sấy khô tiệt khuẩn; rắc vào mụn nhọt đã chảy nước vàng, các vết thương lâu ngày không liền miệng. Ngoài ra còn dùng với băng phiến để trị bệnh mắt có màng mộng.

Liều dùng: 12-40g

Kiêng kỵ: những người âm hư nhiệt thịnh không nên dùng; dùng với thời gian kéo dài hoặc liều lượng lớn có thể dẫn đến đại tiện táo bón.

Chú ý:

– Hàm lượng calci trong ô tặc cốt tính theo oxyd calci là 45,72% . Điều đó giải thích khả năng giảm độ acid trong dịch vị đối với bệnh dạ dày.

Ngẫu Tiết

NGẪU TIẾT (Ngó sen) Là thân rễ hoặc chồi mầm từ thân rễ của cây sen Nelumbo nucifera Gaertn. Họ Sen Nelumbonaceae.

Tính vị: vị ngọt, chát, tính bình

Quy kinh: vào 3 kinh tâm, can, tỳ

Công năng chủ trị:

– Chỉ huyết, dùng với bệnh họ ra máu, thổ huyết, chảy máu cam, đại tiểu tiện ra huyết, rong huyết, băng lậu; có thể phối hợp với tông lư, huyết dư thán, hoặc ngẫu tiết, cỏ nhọ nồi mỗi thứ 20g, bạch cập, trắc bách diệp mỗi thứ 16g. Sấy khô tán bột, trị ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam; có thể dùng ngó sen tươi ninh với móng giò lợn, ăn vài lần là có hiệu quả tốt. Lá sen (hà diệp) vị đắng tính bình, nhập kinh can ty, cũng có tác dụng chỉ huyết an thần, gây ngủ, chảy máu cam, giải thử (xem phần giải thử)

Liều dùng:

12-40g (ngó sen)

4-12g (lá sen)

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: chất niciferin có trong lá sen có tác dụng giải kinh, giải co quắp đối với cơ trơn.

Ngải Diệp

NGẢI DIỆP dùng lá của cây ngải cứu Artemisia vulgaris L. Họ Cúc Asteraceae

Tính vị: vị đắng, cay, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can, vị

Công năng chủ trị:

– Chỉ huyết, ấm kinh tán hàn, dùng trong các trường hợp kinh nguyệt không đều, có kinh đau bụng, phối hợp với hương phụ, bạch đồng nữ, trần bì.

– Giải cảm mạo, dùng khi cảm mạo phong hàn đau đầu, mũi ngạt, dùng phối hợp với các vị thuốc khác để xông hoặc uống. Khi đau đầu dữ dội có thể tiến hành xông lót gạch như sau: nung một viên gạch cho nóng, đặt lớp ngải cứu tươi, rưới một chén rượu trắng lên lớp ngải cứu, gối nhẹ phần đầu bị đau nhức lên, phía trên trùm khăn cho kín.

– Giảm đau, dùng chữa kiết lỵ, ỉa chảy, đau bụng, lá ngải cứu non, tươi thái nhỏ, trộn đều với trứng gà, nướng ăn (kiểu ăn phồng lá mơ); cũng có thể sắc uống với trần bì, lượng bằng nhau.

– An thai, khi có thai động, chảy máu, phối hợp với củ gai, tô ngạnh, bạch truật sắc uống. Trong trường hợp đẻ ngược hoặc thai chết, dùng lá ngải cứu tươi 40g vò lấy dịch pha thêm rượu mà uống.

– Sát khuẩn lên da non: dùng trong các trường hợp bị bỏng, dùng lá tươi giã nát đắp vào chỗ bị bỏng, chỗ bỏng sẽ không bị phồng dộp (dùng ngải cứu tím thì tốt hơn), dùng lá tươi đắp lên vết thương có tác dụng lên da non, ngoài ra còn dùng lá tươi đắp lên vết thương có tác dụng lên da non, ngoài ra còn dùng lá tươi trị giun đũa, sắc lá tươi 40g uống vào buổi sáng lúc đói.

– An thần, dùng rễ ngải cứu uống dưới dạng thuốc sắc đễ chữa động kinh.

– Kiện tỳ, ngải cứu có tác dụng kích thích tiêu hóa, ăn ngon cơm.

Liều dùng: 4-12g

Chú ý:

– Với tính chất ôn trung, ngải diệp dùng sống, với tính chất an thai, trích rượu sao vàng, với tính chất chỉ huyết ngải diệp thán sao.

– Lá ngải diệp phơi khô tán bột làm ngải nhung dùng làm thuốc cứu trên huyệt vị hoặc chỗ đau. Tránh nhầm lẫn với cây ngải xanh (Artemisia absinthium).Tuy nhiên cây này có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn hạ sốt, trị sốt rét, bảo vệ gan. Dịch chiết ngải xanh làm giảm men gan SGOT, SGPT (động vật thí nghiệm), kéo dài giấc ngủ (chuột) với Pentobarbital.

– Tác dụng dược lý: tinh dầu ngải diệp có tác dụng trấn ho, khử đờm, giãn cơ trơn của khí quản chuột lang, đối kháng với acetylcholin, nước sắc tăng tiết mật.

– Tác dụng kháng khuẩn: tinh dầu ngải diệp có tác dụng ức chế một số vi khuẩn; ngoài cây ngải cứu nói trên, còn có cây ngải xanh Artemisia absinthium, lá phía dưới có màu xanh, ở Liên Xô (cũ) có dùng để kích thích tiêu hóa, lợi mật, tuy nhiên ở Việt Nam còn ít dùng; cần chú ý nghiên cứu. Tinh dầu có tác dụng diệt lỵ amip và ức chế Diplococcus pneumoniae, Mycobacterium tuberlulosis, Proteus vulgaris, Salmonella typhi, Shi.dysenteriae, Shi.flexneri, B.subtilis, B.mycoides, Bacterium Pyoeyaneuz.

Hòe Hoa

HÒE HOA là nụ hoa phơi khô của cây hòe Styphnolobium japonicum (L) Schott, Sgn.
Sophora japonica L. Họ Đậu Fabaceae. Hòe là cây thuốc được trồng nhiều ở địa phương miền bắc, đặc biệt ở Thái Thụy, Thái Bình.

Tính vị: vị đắng, tính hơi hàn

Quy kinh: vào hai kinh can, đại tràng

Công năng chủ trị:

– Lương huyết chỉ huyết: dùng trong các trường hợp huyết nhiệt gây xuất huyết như chảy máu cam, lỵ, trĩ chảy máu, phụ nữ băng huyết, đại tiểu tiện ra máu; phối hợp với trắc bách diệp, kinh giới (sao đen); có thể dùng thuốc có hoa hòe và một số vị thuốc khác có thể chế như sau để chữa trị: hòe hoa 20g, kinh giới 40g, chỉ xác 20g, ngải cứu 40g, phèn chua 12g, cho thuốc vào nồi, dùng lá chuối bịt kín miệng, cho nước, đun sôi 10 phút; chọc một lỗ thủng, xông trực tiếp vào chỗ trĩ ở hậu môn, khi nước nguội dùng nước sắc đó rủa chỗ trĩ; cách làm này đã mang lại hiệu quả tốt cho bệnh trĩ.

– Thanh nhiệt bình can: dùng trong trường hợp can hỏa thương việm, đau mắt đỏ, đau đầu.

– Bình can hạ áp: dùng hoa hòe sao vàng trong bệnh huyết áp cao, có thể phối hợp với xa tiền tử, thảo quyết minh sao vàng, có thể uống dưới dạng thuốc chè. Ngoài ra có thể dùng điều trị bệnh đau thắt động mạch vành.

– Thanh phế, chống viêm: dùng trong bệnh viêm thanh đới, nói không ra tiếng. Hoa hòe sao vàng 12g, sắc uống trong ngày. Hoặc trong bệnh viêm thận cấp.

– Hòe giác (quả hòe) vị đắng, tính hàn

Quy kinh: can, đại tràng

Công năng chủ trị:

– Có tác dụng thanh can đởm, trừ phong lương huyết: dùng trong các trường hợp tỳ vị nhiệt, chảy nhiều dãi, trĩ nhọt, phụ nữ can khí uất kết, nhọt vú. Ngoài ra còn dùng trong bệnh đại tiểu tiện ra máu, phối hợp với đậu đen; có thể dùng hòe giác ngâm trong cồn, sau pha vào nước đun sôi để nguội mà rửa vết thương, thối loét có kết quả.

– Lá hòe, đồ chín phơi khô nấu nước uống, chữa mờ mắt, hoặc dùng lá hòa tươi sắc lấy nước rửa mụn nhọt.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: không dùng hoa hòe cho phụ nữ có thai. Khi dùng hòe giác cho phụ nữ, dùng phải thận trọng

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: rutin (thành phần chủ yếu của hoa hòe) có tính chất của sinh tố P, có tác dụng làm dẻo mao mạch giảm độ thấm của thành mạch. Làm hạ huyết áp, chống phóng xạ của tia X, chống viêm thận cấp. Dạng muối Na của rutin có tác dụng làm giảm nhẹ phù nề của tĩnh mạch khi bị viêm. Sau khi bị oxy hóa, rutin có tác dụng làm tăng đường huyết của thỏ ở mức độ tương đương với liều 0,05mg/kg chất cortizon. Chất quercetin trong hòe có tác dụng cầm máu, còn chất isoramnetin trong hòe lại có tác dụng chống cầm máu.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc có tác dụng ức chế Sb.flexneri.

Cỏ Nhọ Nồi

CỎ NHỌ NỒI (Hạn liên thảo) dùng bộ phận trên mặt đất của cây cỏ nhọ nồi Eclipta prostrata (L). Họ Cúc Asteraceae.

Tính vị: vị ngọt, chua, tính mát

Quy kinh: vào hai kinh can và thận

Công năng chủ trị:

– Lương huyết chỉ huyết: dùng trong các trường hợp xuất huyết, thổ huyết, khái huyết, chảy máu cam, đại tiểu tiện ra máu; có thể dùng lá tươi rửa sạch, giã vắt lấy dịch mà uống hoặc sắc uống khi sốt xuất huyết, uống cỏ nhọ nồi có tác dụng hạ nhiệt, chỉ huyết, mỗi ngày uống 50-100g dịch nước cốt cỏ nhọ nồi tươi, hoặc phối hợp với trắc bách sao, huyết dụ…khi có xuất huyết mà lại ứ huyết thì phối hợp với một số vị thuốc hoạt huyết và hành khí, cỏ nhọ nồi (sao đen) 20g, ngải cứu (sao đen) 16g, mần tưới (sao đen) 20g, nghệ (trích giấm) 20g, hương phụ (chế) 20g, tô mộc 16g, khi phụ nữ bị rong kinh thì giã lấy dịch uống. Khi chảy máu bên ngoài có thể giã nát thêm chút muối rồi đắp vào chỗ bị thương.
Tư âm bổ thận, dùng khi thận hư, đau lưng, râu tóc sớm bạc, cỏ nhọ nồi phơi khô tán bột, ngày 16g, uống với nước cam.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: người đại tiện lỏng, tỳ vị hư hàn không nên dùng

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: với liều 3g/kg chuột, tăng thời gian Quick, rõ rệt, tăng trương lực của tử cung cô lập, tăng Prothrombin, không làm tăng huyết áp, không giãn mạch.

– Gần đây cỏ nhọ nồi được Nguyễn Khắc Viện sử dụng trong chế phẩm để chữa viêm gan siêu vi B cho kết quả tốt.

Long Thảo Nha

LONG THẢO NHA dùng bộ phận trên mặt đất của cây long nha thảo Agrimonia napalensis D. Don. Họ Hoa hồng Rosaceae.

Tính vị: vị đắng, chát, tính hàn

Quy kinh: vào 4 kinh phế, tỳ, vị, đại tràng

Công năng chủ trị:

– Lương huyết, thu liễm, chỉ huyết: dùng đối với bệnh ho ra máu, chảy máu mũi, nôn ra mái, đại tiện ra máu, lỵ ra máu, chảy máu chân răng; có thể dùng riêng hoặc phối hợp với hoa hòe, trắc bách diệp.

– Kiện tỳ, tiêu tích trệ: dùng trong các trường hợp tiêu hóa không tốt; đặc biệt ở trẻ em đau bụng đi tả, trẻ con bị bệnh cam tích (nhào trộn lá non với trứng gà rồi nướng ăn).

– Sát khuẩn: dùng chữa sốt rét, dùng 40-80g dưới dạng thuốc sắc.

Liều dùng: 8-16g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: dịch chiết có tác dụng làm tăng lượng canxi trong máu, tăng lượng tiểu cầu. Tác dụng co mạch máu; làm thời gian đông máu rút ngắn lại.

– Tác dụng kháng khuẩn: long nha thảo có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn lỵ, mủ xanh.

Tam Thất

TAM THẤT rễ phơi khô của cây tam thất Panax notoginseng Wall. Họ Nhân sâm
Araliaceae.

Tính vị: vị đắng, hơi ngọt, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can, thận

Công năng chủ trị:

– Hóa ứ chỉ huyết: dùng khi có chảy máu như bị thương chảy máu; hoặc ho ra máu, chảy máu cam, băng huyết; sau đẻ ra huyết nhiều; hoặc vừa có ứ huyết lại vừa xuất huyết, phối hợp với huyết dư thán, trắc bách diệp, ngẫu tiết…

– Hóa ứ chỉ thống: dùng trong các trường hợp huyết ứ mà dẫn đến đau đớn, các trường hợp chấn thương sưng đau do huyết tụ.

– Hóa ứ tiêu ung nhọt: dùng trong huyết ứ hoặc ung nhọt sưng đau. Ngoài ra còn dùng khi bị rắn độc cắn. Với tính chất tiêu ung nhọt, ngày nay tam thất được dùng nhiều để chữa u xơ thường có kết quả.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người huyết hư không có ứ trệ không dùng. Cần tránh nhầm lẫn với nhiều loại tam thất nam, hoặc cây khác giả tam thất.

Tô Mộc

TÔ MỘC dùng gỗ của cây tô mộc Caesalpinia sappan L. Họ Đậu Fabaceae.

Tính vị: vị ngọt, mặn, tính bình

Quy kinh: vào 3 kinh tâm, can, tỳ

Công năng chủ trị:

– Phá huyết ứ: dùng cho các chứng huyết trướng, người buồn bực khó chịu; đặc biệt phụ nữ sau khi đẻ; còn dùng để điều hòa kinh nguyệt khi bế kinh hoặc kinh nguyệt không đều; phối hợp với hương phụ, ích mẫu, ngải cứu.

– Thanh tràng chỉ lỵ, nhất là lỵ lâu ngày, dùng tô mộc sắc uống; hoặc phối hợp với huyền sâm, vân mộc hương.

Liều dùng: 4-16g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: nước sắc tô mộc tăng co bóp tim ếch, co mạch nhẹ đùi sau của cóc. Nước sắc còn có tác dụng trấn tĩnh, an thần gây ngủ đối với chuột và thỏ, nước sắc 3g/kg (chó) tiêm dưới da làm cho chó bị nôn và đi tả.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc ức chế trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, lỵ, tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn.

Nga Truật

NGA TRUẬT dùng củ phơi khô của cây nga truật Curcuma zedoaria (Berg) Rosce. Họ Gừng
Zingiberaceae.

Tính vị: vị đắng, cay, tính ấm

Quy kinh: vào kinh can

Công năng chủ trị:

– Phá huyết, hành khí: dùng trị bệnh huyết trệ, kinh nguyệt bế, đau bụng khi có kinh. Sau khi để khí huyết xông lên mà gây đau nhói khắp cơ thể; dùng nga truật, can tất (sơn khô sao cho bay hết khói đen), lượng bằng nhau, sắc uống.

– Tiêu thực hóa tích trệ: dùng trong các trường hợp ăn uống không tiêu, thức ăn bị tích lại gây đau bụng, trướng hơi phối hợp với sơn tra, chỉ thực, trần bì; trẻ em bị trớ, phối hợp với ngưu hoàng.

– Thanh phế chỉ ho: dùng khi bị ho, nhiều đàm, phối hợp với viễn chí, bán hạ.

Liều dùng: 8-12g

Kiêng kỵ: nếu cơ thể yếu không có tích trệ thì không nên dùng