Home Blog Page 36

Hải Mã

HẢI MÃ (Cá ngựa) Hải mã được thu bắt tù loài cá Hippocampus kelloggi jordan et Snyder; hoặc H.hystrix Kaup. Họ Hải long Syngnathidae.

Tính vị: vị ngọt, tính ôn

Quy kinh: vào 2 kinh can, thận

Công năng chủ trị:

– Ôn thận tráng dương: dùng cho nam, nữ thận dương suy kém dẫn đến liệt dương hoặc vô sinh ở phụ nữ. Lấy 1 đôi cá ngựa (một con đực, 1 con cái), sấy khô vàng, tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g. Có thể dùng nước hay rượu trắng mà chiêu thuốc. Ngoài ra còn dùng cho cả trường hợp sinh lý kém, không bền. Có thể dùng 1 đôi cá ngựa dưới dạng ngâm rượu. Có thể phối hợp với một số vị thuốc khác như nhục thung dung, dâm dương hoắc, thỏ ty tử, sà sàng tử, câu kỷ tử… thì tác dụng tăng lên nhiều.

– Bổ khí, tăng sức đề kháng cho cơ thể: dùng cho những người có chân khí kém,
hay yếu mệt, những người già, người mới ốm dậy, phụ nữ trong khi đẻ yếu mệt, thai
khó ra.

– Tán kết tiêu thũng, dùng cho các trường hợp nhọt độc, ung thũng hoặc chấn
thương; dùng dưới dạng bột; hoặc nấu cao đắp ngoài.

Liều dùng: 4-12g

Lộc Nhung

LỘC NHUNG là sừng còn non của con hươu sao đực Cervus nippon Temminck, hoặc con
ngựa đực Cervus elaphus linnaeus. Họ Hươu Cervidae.

Tính vị: vị ngọt, tính ấm

Quy kinh: vào 3 kinh can, thận, tâm bào

Công năng chủ trị:

– Bổ và làm ấm thận dương (ôn bổ thận dương): dùng trong các trường hợp thận dương hư nhược, phụ nữ kinh nguyệt không đều, băng lậu, đới hạ, tắc tia sữa; nam giới liệt dương, hoạt tinh, đau lưng, chân lạnh, đái dắt. Phối hợp với nhân sâm.

– Sinh tinh tủy, mạnh gân xương, ích huyết: dùng cho người gầy yếu, xanh xao, trẻ em thì phát dục kém, chậm mọc răng.

Liều dùng: 1-4g

Kiêng kỵ: người âm hư hỏa vượng không được dùng

Công năng chủ trị:

– Tác dụng dược lý: lộc nhung xúc tiến sự sinh trưởng của động vật, thúc đẩy quá trình tái sinh của tổ chức, tăng hồng cầu và tiểu cầu, tăng nhu động ruột và dạ dày, lợi tiểu. Liều lớn gây hạ huyết áp, biên độ co bóp của tim tăng, tim đập nhanh hơn.

Tắc Tè

TẮC TÈ (Cáp giới) Dùng con tắc tè Gekko gekko L. Họ Tắc tè Gekkonidae cần tránh nhầm lẫn với con hút gió, con rồng đất, về kích thước gần bằng tắc kè, mới nhìn hao hao giống tắc kè nhưng khác ở chỗ trên sống lưng con hút gió có một hàng gai nhọn, vẩy của nó khô
và nháp hơn con tắc kè.

Tính vị: vị mặn, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh phế và thận

Công năng chủ trị:

– Bổ phế dùng để điều trị các bệnh hen suyễn lâu ngày, dùng bột tắc kè hoặc rượu con tắc kè còn dùng cho bệnh ho lao, ho ra máu, khạc ra máu mủ.

– Bổ thận ích tinh: dùng để trị các bệnh lưng đau mối mỏi, ù tai, liệt dương, di tinh, bệnh của mệnh môn hỏa suy, chức năng sinh dục kém; chữa bệnh tiêu khát (đái đường, đái tháo).

– Bổ thần kinh và bổ toàn thân: dùng trong bệnh suy nhược thần kinh, tinh thần mệt mỏi lao động trí óc căng thẳng; dùng bồi bổ khi cơ thể suy yếu gầy còm.

Liều dùng: 3-6g

Rượu thuốc 10-15ml

Chú ý:

– Trước khi dùng nếu dùng tươi càn phải rửa sạch bên ngoài, rồi vứt bỏ phủ tạng, chặt bỏ u mắt và 4 bàn chân, lau sạch máu, có thể dùng nấu cháo hoặc tẩm nước gừng có rượu, nướng vàng giòn, rồi tán bột hoặc ngâm rượu. Nếu là tắc tè khô thì cần chặt bỏ 4 bàn chân, u mắt, lấy dao cạo tróc các vảy khô, sau đó sấy giòn hoặc tán bột.

– Cần dùng quả xuyên tiêu để bảo quản tắc kè khô, sẽ chống được sâu mọt phá hoại.

– Tác dụng dược lý: tắc kè có tác dụng tăng hồng cầu và huyết sắc tố. Làm tăng nhu động ruột của thỏ. Hạ huyết áp đối với cho thực nghiệm, làm tim ếch cô lập đập chậm lại.

– Tác dụng kháng khuẩn: thuốc có tác dụng ức chế vi khuẩn Gram âm và dương.

Đỗ Trọng

ĐỖ TRỌNG dùng vỏ của cây đỗ trọng Eucommia ulmoides Oliv. Họ Đỗ trọng
Eucommiaceae. Hiện đã di thực vào nước ta, ngoài cây này chúng ta còn dùng đỗ trọng nam.

Tính vị: vị ngọt, cay, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can, thận

Công năng chủ trị:

– Bổ can thận, mạnh gân cốt: dùng để trị can thận hư, đau lưng, gối mỏi, hai chân mỏi, đau nhức trong xương, vô lực, chóng mặt, liệt dương, tiết tảo, xuất tinh sớm, thường phối hợp với tang ký sinh, thục địa.

– An thai: dùng trị động thai ra máu, có thể phối hợp với tục đoan, ngải diệp, thán, hoàng cầm, trư ma căn.

– Bình can hạ áp: chữa tăng huyết háp phối hợp với câu đằng, thiên ma, ba kích.

Liều dùng: 8-16g

Kiêng kỵ: những người thận hỏa vượng thịnh không nên dùng.

Chú ý:

– Đỗ trọng có thể dùng sống hoặc qua sao tẩm, nếu đem sao thì tác dụng hạ huyết áp tốt hơn để sống. Dùng sống để bổ gan, tẩm muối bổ thận, trị đau lưng, đau xương, tẩm rượu sao trị phong thấp, tê ngứa, sao đen tri động thai hoặc chữa rong kinh.

-Tác dụng dược lý: đỗ trọng co tác dụng hạ huyết áp đối với chó gây mê, làm mạnh sự co bóp của cơ tim, lợi niệu. Tiêm vào tĩnh mạch của chó, thỏ; dịch chiết của đỗ trọng sống, đỗ trọng sao và dạng chiết xuất bằng dung môi cồn. Kết quả thấy rằng tác dụng hạ huyết áp của đỗ trọng sao lớn hơn đỗ trọng sống. Dạng thuốc sắc so với dạng chiết xuất bằng cồn thì tác dụng mạnh hơn.

Cẩu Tích

CẨU TÍCH là rễ của cây cẩu tích Cibotium barometz (L). J.Sm. Họ Cẩu tích Dicksoniaceae mọc hoang ở vùng núi nước ta, vào tháng 4 – 6 hoặc tháng 10 đến tháng 12, đào lấy củ phơi khô. Khi dùng đốt trên ngọn lửa cho cháy sạch lông (lông cu li) sau đó ngâm nước 1- 2 ngày, đồ cho mềm, thái lát phơi khô, tẩm rượu hoặc muối ăn, sao qua.

Tính vị: vị đắng ngọt, hơi cay, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can, thận

Công năng chủ trị:

– Bổ can thận, mạnh gân cốt, trừ phong thấp, dùng điều trị các bệnh do gan thận yếu, đau lưng, đau khớp, suy tủy, hai chân tay tê mỏi, nhức trong xương, vô lực. Dùng bài thuốc sau để chữa đau khớp do lạnh: cẩu tích 16g, phụ tử chế, tỳ giải 12g, tô mộc 8g, làm viên hoàn, ngày uống 2 lần mỗi lần 8g.

– Cố thận: dùng trị bệnh đái tháo, đái nhiều không cầm lại được, phụ nữ băng lậu, đới hạ hoặc các bệnh di tinh, hoạt tinh.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người thận hư có nhiệt không dùng, âm hư có nhiệt, tiểu tiện không thông, miệng đắng lưỡi khô, không dùng. Lông cu li, lớp lông vàng óng mịn, phủ bên ngoài củ cẩu tích, dùng để cầm máu vết thương.

Chú ý: Khi dùng cẩu tích ngâm cho mềm, thái mỏng, sao với cát để bỏ lông.

Ba Kích

BA KÍCH dùng rễ của cây ba kích Morinda officinalis How. Họ Cà phê Rubiaceae. Ba kích là một vị thuốc bổ đã được nhân dân ta dùng và ưa chuộng từ lâu. Ba kích có mọc ở một số tỉnh như Bắc Thái, Quảng Ninh, Yên Bái; hiện nay đã được một số nơi tiến hành trồng bán tự nhiên cây này.

Tính vị: vị cay, ngọt, tính ấm

Quy kinh: vào kinh thận

Công năng chủ trị:

– Bổ thận dương, mạnh gân cốt, thận dương suy nhược dẫn đến di tinh, liệt dương, xuất tinh sớm, phụ nữ đau bụng dưới, không có con, người già lưng đau, gối mỏi. Có thể dùng bài thuốc sau: ba kích 80g, sừng hươu 200g, tiểu hồi 60g, phụ tử chế 16g, thục địa 160g, hoài sơn (sao) 160g, quế nhục 30g, mật ong vừa đủ làm hoàn ngày uống 3 lần mỗi lần 16-20g.

– Bổ tỳ vị, ích tinh tủy, điều huyết mạch, phối hợp với đương quy, hoài sơn, đan sâm…

– Trị cao huyết áp của phụ nữ, phối hợp với ích mẫu thảo, sung úy tử, câu đằng.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người âm hư hỏa thịnh, đại tiện bí táo không nên dùng. Khi dùng cần ủ mềm, bỏ lõi, thái mỏng, phơi khô hoặc tẩm rượu sao.

Chú ý: Tác dụng dược lý: vị thuốc có tác dụng hạ huyết áp, tăng sự co bóp của ruột.

Thạch Hộc

THẠCH HỘC dùng phần tươi hay khô của cây thạch hộc Dendrobium loddigessi rolfe hoặc
các Dendrobium. Họ Lan Orchidaceae.

Tính vị: vị ngọt, nhạt, tính hơi hàn

Quy kinh: vào 3 kinh phế, vị và thận

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt sinh tân dịch, chỉ khát: dùng trị các bệnh nhiệt, làm tổn thương đến tân dịch, biểu hiện miệng khô, lưỡi hồng, có thể dùng thạch hộc 12g, thục địa 16g, bổ chính sâm 16g, bá tử nhân, thiên môn đông, mạch môn đông, huyền sâm, táo nhân, hạt sen mỗi thứ 12g.

– Tư âm dưỡng vị: trị phần âm của vị không đủ, ăn uống không tiêu, lợi sưng phù loét, nôn khan. Có thể dùng bài sau để trị ăn uống buồn nôn, biếng ăn sau khi lên sởi: thạch hộc, phục linh, bạch biển đậu, mẫu đơn bì, xích thược mỗi thứ 12g, trần bì, chỉ xác, hoắc hương mỗi thứ 8g, cam thảo 4g (dạng thuốc sắc).

– Trừ phong thấp: dùng với bệnh chân và đầu gối đau nhức, dùng thạch hộc tẩm rượu, đồ chín thái phiến, phơi khô hãm uống thay nước chè.

Liều dùng: 8-16g

Kiêng kỵ: những người tỳ vỵ dương hư, thấp trệ, rêu lưỡi dầy nhờn không nên dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: liều nhỏ có tác dụng tăng co bóp hành tá tràng cô lập, liều cao lại ức chế; làm tăng lượng glucose trong máu, làm giảm huyết áp; gây khó thở, làm co tử cung của chuột bạch.

Quy Bản

QUY BẢN là mai và yếm của con rùa Chinemys (Geoclemys) revessii (Qray). Họ Rùa
Testudinidae thường dùng rùa núi (sơn quy), có nơi dùng rùa nước (thủy quy).

Tính vị: vị mặn, tính bình

Quy kinh: vào 4 kinh thận, tâm, can, tỳ

Công năng chủ trị:

– Tư âm tiềm dương, giáng hỏa: trị thận âm kém mà sinh ho lâu ngày; sốt nóng âm ỉ trong xương. Còn dùng để bổ xương cốt, ra mồ hôi trộm, di tinh lưng cốt đau mỏi, dùng cao quy bản 100g, hoài sơn (sao) 120g, phá cố chi (sao rượu) 80g, vỏ rễ cây bông trang (sao) 6og, thục địa 160g, hạt tơ hồng (sao) 80g, khiếm thực 60g, ram má 80g, ngày dùng 20g hoặc phối hợp với hoàng bá, thục địa, tri mẫu.

– Sinh tân dịch: dùng trong các trường hợp tân dịch hao tổn, phối hợp với mẫu lệ, miết giáp, sinh địa.

– Ích khí: dùng bổ sau khi ốm dậy, phối hợp với đảng sâm, bạch truật, đương quy, thục địa.

– Cố tinh chỉ huyết: dùng để trị các bệnh âm hư huyết nhiệt dẫn đến bệnh tăng đường huyết, thường phối hợp với mẫu đơn bì, sinh địa.

– Sát khuẩn: trị sốt rét lâu ngày không khỏi, trị lỵ, kinh niên. Ngoài ra còn dùng với các bệnh trĩ.

Liều dùng: 16-40g

Kiêng kỵ: những người âm hư không có nhiệt, phụ nữ có thai không nên dùng, khi dùng có thể trích giấm, rượu hoặc mỡ lợn.

Miết Giáp

MIẾT GIÁP là mai con ba ba Trionyx sinensis Wiegmann. Họ Ba ba Trionychidae.

Tính vị: vị mặn, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh can, phế, tỳ

Công năng chủ trị:

– Tư âm tiền dương, ích can: trị âm hư sinh nhiệt, ra mồ hôi trộm thường phối hợp với địa cốt bì.

– Nhuyễn kiên: Tán các u kết rắn, tiêu máu ứ đọng thành hòn cục. Ngoài ra còn chữa 5 loại trí (ngũ trĩ) kể cả trĩ nội và trĩ ngoại; dùng mai ba ba cùng với da nhím, tổ ong, xác rắn, móng chân lợn, các vị lượng bằng nhau, đốt tồn tính, tán nhỏ trộn đều ngày uống 8g. Ngoài ra còn dùng chữa bế kinh và các bệnh ho lao, nhức xương, lao lực quá độ.

– Sát khuẩn: trị bệnh sốt rét sinh ra báng bĩ, gan và tỳ sưng to dùng miết giáp tẩm giấm, nướng vàng hoặc tán bột mà uống.

– Giải kinh: trị kinh phong ở trẻ em (đem miết giáp, nướng vàng, tán nhỏ thành bột hòa với sữa mẹ cho uống).

– Lợi tiểu, phù thũng: miết giáp nướng vàng, tán bột uống với rượu ngày 3 lần để chữa đi tiểu ra sỏi sạn.

Liều dùng: 12-10g

Kiêng kỵ: những người tỳ vị hư hàn, ỉa chảy, phụ nữ có thai không nên dùng. Khi dùng miết giáp, cần xử lý cho sạch thịt bằng ngâm ủ với tro, rửa sạch, sau đó phơi khô rang với cát, cho vàng, rồi tôi vào giấm.

Chú ý:

Ngoài vị miết giáp, cũng có thể dùng vị miết huyết (máu ba ba) cho vào tờ giấy bản, phơi khô, tán mịn rắc vào chỗ lở loét ở lòng bàn tay (gọi là sâu thớt) hoặc cho tiết ba ba vào rượu mà uống để chữa hen; hoặc dùng máu ba ba tẩm vào thuốc khác (tẩm miết huyết). Vì máu ba ba đông y quan niệm là rất lạnh (cực hàn) dùng máu ba ba để tẩm vào thanh cao và sài hồ. Thanh cao có tác dụng giảm hư nhiệt, sài hồ chữa hàn nhiệt vãng lai, sốt kéo dài. Miết giáp tư âm: dùng máu của 100 con ba ba, hòa với nước rồi tẩm vào 100kg thanh cao hoặc sài hố sau đó phơi khô. Ngoài ra còn dùng trứng ba ba (ba ba ở nước, nhưng thường lên bờ ao, vườn gần nước, đào lỗ đẻ trứng) để chữa thận phù hoặc chữa lỵ lâu ngày

Câu Kỷ Tử

CÂU KỶ TỬ là quả chín phơi khô của cây khởi tử, cây khủ khởi Lycium chinense Mill. Họ
Cà Solanaceae.

Tính vị: vị ngọt, hơi đắng, tính bình, không độc.

Quy kinh: vào kinh phế, thận kiêm can, tỳ

Công năng chủ trị:

– Bổ can thận dưỡng huyết, sáng mắt: dùng để điều trị can thận âm hư và huyết hư, dẫn đến lưng đau gối mỏi, tai ù, chóng mặt, mắt mờ, có thể dùng câu kỷ tử, hoàng tinh lượng bằng nhau, nghiền bột, luyện với mật ong, làm hoàn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g. Hoặc dùng cây kỷ tử ngâm rượu từ 3- 5 ngày, dùng trị bệnh do can hư sinh ra đau mắt hoặc ra gió, nước mắt chảy giàn giụa.

– Sinh tân chỉ khát, dùng trị bệnh tiêu khát (đái đường) di tinh hoạt mộng tinh, liệt dương.

– Bổ phế âm: dùng trị bệnh lao, bệnh ho khan.

– Ích khí huyết: dùng cho người già khi hư, huyết kém phối hợp với long nhãn, ngũ vị tử.

Liều dùng: 8-16g

Kiêng kỵ: những người tỵ vị hư hàn, ỉa chảy không dùng, khi dùng cần trích với cam thảo,

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: câu kỷ có tác dụng hạ đường huyết.

– Khi dùng có thể tẩm với mật ong, sao phồng.