Home Blog Page 35

Thăng Ma

Dùng rể của cây thăng ma Cimicifuga foetida L, C.dahurica (Turcz) Maxim. Họ Mao lương Ranunculaceae. Còn dùng rễ của cây quả nổ làm vị thăng ma nam

Tính vị: vị ngọt, cay, hơi đắng, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh phế, vị, đại tràng

Công năng chủ trị:

– Làm ra mồ hôi, có tác dụng trị bệnh cảm nhiệt

– Giải độc, làm cho sới mọc, dùng đối với bệnh sới thời kỳ dầu; sới khó mọc; có, thế phối hợp với cát căn, ngưu bàng tử, thuyền thoái.

– Làm cho phần khí đi lên phía trên (thăng dương khí), cùng có tác dụng như vị sài hổ, dùng trong các trường hợp trung khí bị hạ hàm, dẫn đến các chứng sa giáng (dùng trong bài bố trung ích khí)

– Thanh vị nhiệt. dùng trong các chứng nóng, rát loét ở da dày. Ngoài ra còn dùng để thanh nhiệt ở hầu họng. phối hợp với huyến sâm, cát cánh, cam thao.

– Giài độc: dùng trong các trường hợp mụn nhọt ở miệng, lười, đàu răng;
phối hợp với hoàng liên, thạch cao

Liều dùng: 4-8g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: dịch chiết cồn có tác dụng trấn kinh, hạ áp, giải co quắp

– Tác dụng kháng khuẩn: ức chế sinh trưởng của vi khuẩn lao, một số nấm ngoài da

– Khi dùng thường trích với rượu

– Không nhầm với cây thăng ma nam (quả nổ). Họ ôrô

Sài Hồ

Dùng rễ và lá của cây sài hồ Buplerum sinense DC. Họ Hoa tán Apiaceae. Ngoài ra còn dùng rễ cây lức hoặc rễ cây cúc tần làm vị Nam sài hồ. (Radix plucheae pteropodae). Họ cúc Asteraceae.

Tính vị: vị đắng, tính hơi hàn

Quy kinh: nhập vào các kinh cạn, đơm, tâm bào lạc và tam tiêu

Công năng chú trị:

– Giải cảm nhiệt, dùng đối với bệnh sốt do cảm mạo, phối hợp với cát căn hoặc với bán hạ, hoàng cầm, cam thảo.

– Sơ can giải uất, ích tinh sáng mắt; dùng đối với bệnh hoa mắt, chóng mặt do can khí uất trệ mà dẫn đến; còn thể hiện chứng đau nhức hai sườn, kinh nguyệt không đều, có kinh đau bụng.

– Kiện tỳ vị, bố trung, ích khí, thăng dương khí dùng trong các trường hợp bụng đầy trướng, nôn lợm, phối hợp với đẳng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, cam thảo, hương phụ, uất kim… Những trường hợp cơ thể bị sa giáng như sa tứ cung, sa ruột, thoát giang… phối hợp với các vị thuốc bố khí trong bài bố trung ích khí

– Trừ ác nghịch; dùng chữa sốt rét: phối hợp với thường sơn, thảo quá. Với sốt rét ở thời kỳ đầu có thể dùng sài hồ 20g, can thảo dây 12g, rau má 16g, lá tre 12g, bán hạ 12g, rễ dinh lăng trích nước gừng 20g, sinh khương 6g. Sài hồ là một trong những vị thuốc chữa bệnh hàn nhiệt vãng lai

Liều dùng: 8-16g

Kiêng ky: những người âm hư hoa vượng, nôn lợm, ho đầu đau căng không nên dùng. Do có chất saponin có tính chất kích thích; vì thế khi dùng liểu cao, có thể gây nôn lợm

Chú ý:

– Tác dụng duợc lý: vị thuốc có tác dụng hạ nhiệt. Do đó trên lâm sàng thường dùng tốt, đối với các chứng sốt mà nhiệt độ thường chênh lệch 1°C giữa sáng và chiều; hoặc chứng hàn nhiệt văng lai

– Tác dụng kháng khuẩn: giống như thanh cao có tác dụng c chế sự sinh trưởng của ký sinh trùng sốt rét và trực khuẩn ly Sh.shiga

– Khi dùng chữa sốt nói chung, sài hồ được tẩm với miết huyết (máu ba ba)

Thanh Cao

Dùng cành và lá của cây thanh cao Artemisia apiaceae Hance. Họ Cúc Asteraceae

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: vào hai kinh can và đởm

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt giái thử, dùng đối với mùa hạ bị ngoại cảm phong thử (cảm nắng biểu hiện sốt cao, không có mồ hôi (vô hăn) thường phối hợp với kim ngân, liên kiều, hậu phác.

– Trừ hư nhiệt và nhiệt phục bên trong, gây chứng cốt chưng (nóng, đau âm i trong xương), ra mổ hôi trộm (đạo hãn), phối hợp với địa cốt bì, miết giáp; sốt lâu ngày không hạ, bệnh hàn nhiệt vãng lai (lúc sốt, lúc rét) thực chất là bệnh sốt rét, phối hợp với sài hồ. Điều này phù hợp với hiện nay chúng ta dùng một hoạt chất lấy từ thanh cao là artemisinin để phòng và chữa sốt rét có hiệu quá.

– Thanh thấp nhiệt can đởm: thường dùng trong bệnh sốt rét, thương hàn, phối hợp với hoàng cầm, hoạt thạch, cam thảo, phục linh

– Tiêu thực, kiện vị, kích thích tiêu hóá; dùng khi ăn uống kém

Liều dùng: 4-12g

Kiêng ky: những người ra nhiều mồ hôi vào mùa hè, không nên dùng. Cần phân biệt với cây thanh hao Bacokea frutescens L. thuộc họ Myrtaceae

Chú ý:

– Tác dụng kháng khuẩn: thanh cao có tác dụng ức chế đối với một số nấm ngoài da, ức chế ký sinh trùng sốt rét. Điều đó giải thích công dụng trị sốt rét của vị thuốc.

– Hiện nay cây thanh cao hoa vàng (Artemisia annua L.) được trồng làm nguyên liệu chiết artemisinin dùng để chữa sốt rét.

Phù Bình

PHÙ BÌNH dùng cây bèo cái Pistia stratiotes L. Họ Ráy Araceae. Loại phía mặt có lá mầu xanh, phía dưới có màu tía thì tốt hơn.

Tính vị: vị cay, tinh hàn

Quy kinh: vào 2 kinh phế, thận

Công năng chủ trị:

– Làm cho sới mọc, dùng tốt đối với bệnh nhân sởi ở thời kỳ đầu, sởi khó mọc.

-Lợi thuy tiêu phù thung, dùng trong các trường hợp viêm thận cấp tinh gây phù nề, dùng bột khô 4g, uống với nước sôi để nguội, có thế đem đồ chín, sau phơi khô, tán bột, ngày uống 2 lần.

– Giải độc, trị mần ngứa, mụn nhọt có thể sao vàng sắc uống; hoặc lấy cây tươi đun nước, xông vào chỗ ngứa. Nếu eczema, lấy bèo rửa sạch, thêm muối, giã nát, đắp vào.

– Bình suyển: dùng cây tươi, ép lấy nước rồi pha vào sirô, uống dần, có thể uống dài ngày; nên phối hợp với một số vị thuốc khác như trần bì.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng ky: những người mồ hôi ra nhiều, thể hư không nên dùng

Chú ý:

– Tác dụng kháng khuẩn: thuốc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng

Mạn Kinh Tử

Dùng quả chín phơi khô của cây màn kinh tử Vitex trifolia L. Họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae

Tính vị: vị đắng, cay. Tính hơi hàn

Quy kinh: vào 3 kinh can, phế, bàng quang

Công năng chủ trị:

– Trừ phong giảm đau, dùng chữa phong nhiệt dịp đến đau đầu, hoa mắt, chóng mặt hoặc chứng đau đầu do suy nhược thần kinh.

– Thanh can sáng mắt, dùng chữa bệnh đau mắt đỏ, viêm kết mạc cấp tính; phối hợp với tang diệp

– Trừ tê thấp co quấp, dùng trong các bệnh phong thấp, chân tay giá lạnh, co rút.

– Làm hạ huyết áp, có thể phối hợp với cát căn, hoè hoa

Liều dùng: 8-12g

Kiêng ky: những người huyết hư mà đau đầu dùng phải thận trọng vì thuốc có tính thăng tán.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: thuốc có tác dụng trấn tĩnh giảm đau ức chế trung khu điều hòà thân nhiệt, hạ nhiệt đối với động vật đà gây sốt thực nghiệm.

– Tác dụng kháng khuẩn: thuốc có tác dụng ức chế với khuẩn B.mycoiaes, B. subtilis. Phạm Xuân Sinh, Chu Thị Lộc thấy dịch chiết cồn nước sắc flavonoid từ mãn kinh tử có tác dụng ức chế vi khuẩn B. pumilus; cereus; Sarcina lutea; Staphylococus aureus.

Ngưu Bàng Tử

NGỨU BÀNG TỬ ị thuốc chính là cây quả ngưu bàng; ngoài ra còn dùng các bộ phận khác như hoa, lá, rẻ của cây ngưu bàng Arctium lappa L. họ Cúc Asteraceae. Cây mọc hoang ở một số tinh miền núi nước ta.

Tính vị: vị cay, đắng, tính hàn

Quy kinh: vào 2 kinh phế và vị

Công năng chủ trị:

– Giải cảm nhiệt, dùng khi phong nhiệt phạm biếu, gây sốt, miệng khô khát, ho khan viêm amidan, khạc ra dờm vàng đặc, có thể dùng ngưu bàng tử 12g, bạc hà 6g, thuyền thoái 6g sắc uống.

– Giải độc, làm cho sởi mọc. Ngoài ra còn dùng đối với dị ứng; có thể phối hợp với kinh giới, cát căn, bạc hà, liên kiều. Dùng lá ngưu bàng đấp vào nơi sưng tấy, mụn nhọt để tiêu viêm, trừ mú, giám đau. Có thể dùng hoa dưới dạng thuốc hàm, rễ dưới dạng thuốc sắc, để chữa mụn nhọt, giảm đau, chữa trĩ, chữa viêm thận và lao da.

– Nhuận tràng, thông tiện: dùng trong các trường hợp táo do viêm họng có sốt

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người tỳ hư, tiết tả, không nên dùng

Chú ý:

– Lá ngưu bàng dùng đắp chữa mụn nhọt. Rễ nhiều bột có thể làm thức ăn

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc ngưu bàng tử có tác dụng ức chế tụ cầu vàng và một số nấm ngoài ra.

Phòng Phong

Dùng rễ của cây phòng phong Lygusticum seseloides Wolff và cây xuyên phòng phong-Lygusticum bachylobum Franch hoặc thiên phòng phong Lede-bourienla seleloides Wolff. Họ hoá tán Apiaceae.

Tính vị: vị cay ngọt, tính hơi ấm

Qui kinh: vào 2 kinh bàng quang, can

Công năng chủ trị:

– Giải cảm hàn, dùng với bệnh cảm mạo phong hàn xuất hiện sốt rét, đau đầu, ho. Có thể dùng phòng phong 12g, hạnh nhân 12g, hành 12g, sinh khương 12g sắc uống.

– Trừ phong thấp, giảm đau: dùng trong các bệnh đau nhức xương khớp, hoặc đau mình mấy, buốt cơ, đau nửa đầu, phòng phong 12g, bạch chỉ 8g.

– Giải kinh: dùng trị bệnh co quắp, uốn ván, phối hợp với bạch cương tàm, toàn yết.

– Giái độc: dùng phòng phong giải độc thạch tín.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng ky: những người âm hư hoa vượng không có phong tà không nên dùng, tương sát với thạch tín.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: nước sắc và dịch chiết cồn của phòng phong có tác dụng hạ nhiệt cho tho khi đã gây sốt thực nghiệm. Nước sắc mạnh hơn dịch chiết cồn của nó.

Bạch Chỉ

BẠCH CHỈ vị thuốc là rễ của cây bạch chi Angelica dahurica Benth et Hook. Họ Hoa tán-Apiaceae là cây thuốc di thực, hiện nay đã được trồng thuẩn phục ở nước ta.

Tính vị: vị cay, tính ấm

Quy kinh: vào 3 kinh, phế, vị đại tràng

Công năng chủ trị:

– Giải cảm hàn, dùng trong các bệnh do lạnh gây ra, biểu hiện đau đầu, chủ yếu đau phần trán và dau nhức phần xương lông mày, hốc mắt; hoặc đau mắt mà nước mát trào ra. Phối hợp với địa liền, cát căn, xuyên khung. Có trong thành phần của phương bạch địa căn, hoặc bột khung chi.

– Trừ phong giăm đau: dùng để chữa phong thấp, đau răng, viêm mũ: mệg tính, đau dây thần kinh ở mặt, đau dạ dày; có thể dùng bạch chi, thương nhì tử, tân di, mỗi thứ 12g, bạc hà 6g, nghiền thành bột mịn, uống với nước sôi đề nguội.

– Giải độc trừ mủ (bài nùng), dùng đối với nhọt độc, viêm tuyến vú; hoặc rắn độc cắn, phối hợp với bồ công anh, kim ngân hoa, cam thảo; hoặc mụn nhọt có mủ.

– Hành huyết, điều kinh: trị phụ nữ bế kinh hoặc bệnh băng lậu dới hạ. Phối hợp với thuốc điều kinh khác.

– Nhuận cơ, kiện cơ nhục, tinh tỳ. Dùng trong trường hợp cơ nhục dau mỏi, vô lực, đặc biệt bệnh đau thắt vùng ngực cho hiệu quả tốt.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng ky: những người thuộc chứng hư, uất hoa, không nên dùng. Sốt xuất huyết không nên dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: nước chiết bạch chi có tác dụng làm giãn mạch vành tim, tác dụng này là do chất byak-angelicol Ci7 Hi6 06, chiếm 0,2% trong bạch chi. Điều đó giải thích được tác dụng hoạt huyết giảm đau, nhuận cơ và đau thắt ngực cua vị thuốc.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc bạch chi có phổ kháng khuẩn rất rộng như ức chế trực khuẩn đại tràng, ly, thương hàn, phó thương hàn, mú xanh, lao và cung khuẩn hoắc loạn.

Tế Tân

TẾ TÂN dùng toàn cây kê cá rẻ của cây tế tân Asurum sieboldi và cây liêu tế ân Asarum heterotropoides F. Chum var. mandshuricum (Maxim) Kitag. Họ Mộc hương nam Aristolochiaccae

Tính vị: vị cay, tinh ấm

Quy kinh: vào 3 kinh thận, phế, tâm

Công năng chủ trị:

– Giai căm hàn, dùng đối với bệnh căm mạu phong hàn, đầu dau, i tắc, có thể phối hợp với ma hoàng , phụ từ 12g, tế tân 4g. Phối hợp bạc hà, bạch chi, thương nhi tử chữa viêm xoang.

– Khử phong giảm đau, dùng trong bệnh đau đầu (đau do suy nhược thần kinh), đau răng, hôi miệng. Còn dùng trong bệnh phong thấp đau nhức xương khớp (trong phương độc hoạt ký sinh thang).

– Khứ ứ, chi ho: dùng trong bệnh nhiều đờm, suyển tức khó thờ, viêm khí quản mạn tính, đờm nhiều mà loãng hoặc hen phế quản… có thế phối hợp với phục linh, cam thao, gừng, ngũ vị .

Liều dùng: 1-4g

Kiêng ky: thể âm hư hóa vượng, ho khan mà không có dờm không nên dùng

Chú ý:

Tác dụng dược lý: tế tân có tác dụng giảm đau, hạ nhiệt (liều 0,2-0,5ml/kg thỏ), tinh dầu tế tân làm hạ huyết áp; nước sắc của nó lại làm huyết áp tăng (đối với mèo và thó, liều 1ml/kg nồng độ 5%). Ngoài ra còn ức chế từ cung cô lập của chuột.

Tác dụng kháng khuẩn: dịch chiết cổn của tế tân có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn ly.

Ma Hoàng

MA HOÀNG dùng toàn cây, bỏ rễ và đốt của cây ma hoàng Ephedra sinica Stapf. E.
equisetina Bunge. Họ Ma hoàng-Ephedraceae

Tính vị: vị cay, đáng, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh phế và bảng quang kiêm kinh tâm, đại tràng

Công năng chủ trị:

– Giải cảm hàn do khá năng phát hãn, hạ nhiệt của nó thường được dùng khi cam gió mưa lạnh, cơ thể bị sốt cao kèm theo rét run, đau đầu, nhức răng, ngạt mũi, phối hợp với quế chi, bạch chỉ… Làm thông khí phế, bình suyễn. Trường hợp khí phế tắc, dẫn đến ho, suyển như khi bị cảm hàn có kèm ho ; hoặc viêm khi quản mạn tính, hen phế quán, ho gà. Có thể phối hợp với thuộc thanh nhiệt hóa đờm. Bài ma hoàng thạch cao: ma hoàng 8g, thạch cao 4g, hạnh nhân 12g, cam thảo 4g. Trường hợp viêm khí quản cấp tính, viêm phối có sốt cao, ho, khó thở, miệng khát có thể dùng ma hoàng 8g, hoàng cẩm 12g, thạch cao 40g, cát cánh 12g, hạnh nhân 8g, bách bộ 8g, cam thảo 3g.

– Lợi niệu tiêu phù thùng, dùng đối với trường hợp phù mới mắc do viêm thận cấp tính: ma hoàng 8g, liên kiểu 12g, đậu đỏ 20g, tang bạch bì 12g, hạnh nhân 12g, cam thảo 4g, sinh khương 8g, đại táo 3 quả.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng ky: những người biểu hư, nhiều mổ hôi, phế hư có sốt cao (ho lao) cao huyết áp, không nên dùng.

Chú ý:

– Rễ ma hoàng vị ngọt, tính bình không độc, có tác dụng chỉ hăn ngừng ra mổ hôi), có thể phối hợp với thuốc cố sáp, bổ tỳ để chữa bệnh vã mỗ hôi, đặc biệt của phụ nữ sau khi đẻ. Ngoài ra rẻ ma hoàng còn có tác dụng hạ huyết áp. Nếu đem ma hoàng trích mật ong thì sức phát hần giảm đi, dùng tốt cho trường hợp bệnh hen phế quản.

– Tác dụng dược lý: về mặt nghiên cứu của ma hoàng rất phong phú. (Chỉ giới thiệu một số liên quan đến mặt sử dụng của y học cố truyền.

Tinh dầu trong ma hoàng, chất a-terpineol tác dụng làm ra mồ hôi, hạ nhiệt. Chất ephedrin có tác dụng làm ra mồ hôi ở cơ địa sốt cao (giải thích tính phát hãn, giải cảm, hạ nhiệt của vị thuốc). Chất L-ephedrin (alcaloid) chiếm tới 85% trong ma hoàng có tác dụng làm giãn cơ trơn khí quản với nồng độ rất thấp 1: 5.10-6 (giai thích tác dụng hoặc chữa hen, bình suyển của ma hoàng). Cũng cần chú ý rằng ở nồng độ 1: 10-4, nó gây co thắt khí quản. Các thành phần khác như ephedrn còn có tác dụng làm tim dập nhanh, tăng huyết áp, hưng phấn thần kinh trung ương hoặc  sống.