Ý nghĩa tên gọi Huyệt Tố Liêu đó là: Tố = sắc trắng; Liêu = khe huyệt. Huyệt ở chỗ không có khe huyệt gì cả, vì vậy gọi là Tố Liêu (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Chuẩn Đầu, Diện Chính, Diện Vương, Tỷ Chuẩn, Tỷ Tiêm, Tỵ Chuẩn, Tỵ Tiêm.
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 25 của mạch Đốc.
Vị trí huyệt tố liêu
Ở cuối (chỗ đầu nhọn) của sống mũi.
Giải phẫu
Dưới da là ngành ngang sụn cánh mũi, chỗ tiếp khớp của góc dưới – trước sụn lá mía và sụn cánh mũi. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh sọ não số V.
Tác dụng huyệt tố liêu
Thăng dương, cứu nghịch, khai khiếu, thanh nhiệt.
Chủ trị
Trị mũi nghẹt, mũi chảy máu, mũi viêm, thịt dư ở mũi.
Châm cứu huyệt tố liêu
Châm thẳng sâu 0,1 – 0,2 thốn. Không cứu. Có thể châm xiên mũi kim từ chóp mũi chếch lên trên sâu 0,5 – 1 thốn.
Phối hợp huyệt
1.Phối Nội Quan (Tb.6) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị ngất (Châm Cứu Học Giản Biên).
2.Phối Dũng Tuyền (Th.1) + Nhân Trung (Đc.26) + Nội Quan (Tb.6) + Trung Xung (Tb.9) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị ngất (Châm Cứu Học Thượng Hải).
3.Phối Hợp Cốc (Đtr.4) + Nghênh Hương (Đtr.20) trị mũi đỏ (Tÿ tra tửu) (Châm Cứu Học Thượng Hải).
4.Phối Hợp Cốc (Đtr.4) + Nghênh Hương (Đtr.20) trị thịt dư ở mũi (Châm Cứu Học Thượng Hải).
5. Phối Hưng Phấn + Nội Quan (Tb.6) trị nhịp tim chậm, huyết áp thấp (Châm Cứu Học Thượng Hải).
6.Phối Nghênh Hương (Đtr.20) + Thượng Tinh (Đc.23) trị mũi chảy máu (Châm Cứu Học Thượng Hải).
7.Phối Dũng Tuyền (Th.1) + Nội Quan (Tb.6) để cấp cứu sau khi bị điện giật (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Ghi chú
Châm đắc khí, có cảm giác tê đau hướng lên gốc mũi, vùng xoang mũi.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Tứ Bạch đó là: Huyệt có tác dụng làm cho mắt sáng lóe ra 4 góc, vì vậy gọi là Tứ Bạch (Trung Y Cương Mục).
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 2 của Kinh Vị.
Huyệt giao hội của 3 kinh Cân Dương ở chân.
Vị trí huyệt tứ bạch
Ngay giữa mi dưới thẳng xuống 1 thốn, chỗ lõm dưới hố mắt, bờ dưới cơ vòng mi.
Giải phẫu
Dưới da là bờ dưới cơ vòng mi (phần ổ mắt), trên chỗ bám của cơ gò má (một cơ thuộc cơ vuông môi trên), chỗ tiếp khớp của xương gò má với xương hàm trên.
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh sọ não số V. Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Tác dụng huyệt tứ bạch
Khu phong, minh mục, sơ Can, lợi Đởm.
Chủ trị
Trị liệt mặt, thần kinh mặt co rút, đầu đau, giun chui ống mật.
Châm cứu huyệt tứ bạch
Châm thẳng hoặc xiên. Trị thần kinh tam thoa đau, có thể châm xiên từ dưới hướng ra phía ngoài, lên trên, sâu 0,3 – 0,5 thốn. Không cứu.
Phối hợp huyệt
1.Phối Dũng Tuyền (Th.1) + Đại Trử (Bq.11) trị chóng mặt, đầu đau (Tư Sinh Kinh).
2.Phối Dương Bạch (Đ.14) + Địa Thương (Vi.4) + Giáp Xa (Vi.6) + Hợp Cốc (Đtr.4) trị liệt mặt (Châm Cứu Học Thượng Hải).
3.Phối Đởm Nang (huyệt) + Quan Nguyên (Nh.4) + Thiên Xu (Vi.25) trị giun chui ống mật (Châm Cứu Học Thượng Hải).
4.Phối Dương Bạch (Đ.14) + Địa Thương (Vi.4) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Phong Trì (Đ.20) trị mặt sưng (Châm Cứu Học Thượng Hải).
5.Phối Đồng Tử Liêu (Đ.1) + Ế Phong (Ttu.17) + Giáp Xa (Vi.6) trị thần kinh tam thoa đau (Tân Châm Cứu Học).
Ghi chú
Không nên châm sâu quá, có thể chui vào hố mắt làm tổn thương tới nhãn cầu.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Tứ Mãn đó là: Huyệt có tác dụng trị: 1- Bụng dưới có tích tụ. 2- Sán khí. 3- Bào trung có huyết. 4-Bụng ứ nước to, cứng như đá. Là 4 loại bệnh đầy trương (mãn), ứ trệ của trường vị, vì vậy gọi là Tứ mãn.
Dưới da là cân cơ chéo to của bụng, bờ trong cơ thẳng to mạc ngang, phúc mạc, ruột non hoặc bàng quang khi bí tiểu ít, tử cung khi có thai 5 – 6 tháng.
Thần kinh vận động cơ là 6 nhánh thần kinh gian sườn dưới và dây thần kinh bụng – sinh dục. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D11.
Tác dụng huyệt tứ mãn
Bổ ích Thận khí, điều lý mạch Xung, Nhâm, thông điều thuỷ đạo.
Chủ trị
Trị tử cung xuất huyết, bạch đới, kinh nguyệt không đều, tiêu chảy.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Tử Cung đó là: Tử Cung = Tử Cấm Cung là nơi bệ ngồi của Thiên Đế. Huyệt ở vị trí ứng với tạng Tâm, Tâm là quân chủ, ý chỉ là nơi Tâm thần cư ngụ (Trung Y Cương Mục).
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 19 của mạch Nhâm.
Vị trí huyệt tử cung
Ở điểm gặp nhau của đường dọc giữa xương ức và đường ngang qua giữa 2 khớp ức – sườn 4.
Giải phẫu
Dưới da là xương ức. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D2.
Tác dụng huyệt tử cung
Khoan hung, lý khí, chỉ khái, lợi hầu.
Chủ trị
Trị ngực đau, suyễn, nôn mửa.
Châm cứu
Châm luồn kim dưới da, sâu 0,3 – 1 thốn. Cứu 5 – 15 phút.
Phối hợp huyệt
1.Phối Đại (Thái) Khê (Th.3) + Ngọc Đường (Nh.18) trị ho suyễn, tâm phiền (Thiên Kim Phương)
2.Phối Dũng Tuyền (Th.1) + Trung Đình (Nh.16) trị ăn uống không được (Tư Sinh Kinh)
3.Phối Đởm Du (Bq.19) + Trung Đình (Nh.16) trị ăn uống nuốt không xuống (Tư Sinh Kinh).
Ghi chú
Xương ức nơi trẻ nhỏ rất mềm, vì vậy, cần thận trọng khi châm.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Tỳ Du đó là: Huyệt có tác dụng đưa kinh khí vào (du) tạng Tỳ, vì vậy gọi là Tỳ Du.
Xuất xứ
Thiên ‘Bối Du’ (Linh Khu 51).
Đặc tính
Huyệt thứ 20 của kinh Bàng Quang.
Huyệt Bối Du của kinh Túc Thái Âm Tỳ.
Thuộc nhóm huyệt tản khí Dương của Ngũ Tạng (Tố Vấn 32 và Linh Khu 51).
Vị trí huyệt tỳ du
Dưới gai sống lưng 11, đo ngang ra 1,5 thốn, ngang huyệt Tích Trung (Đc.6).
Giải phẫu
Dưới da là cân ngực – thắt lưng của cơ lưng to, cơ răng bé sau – dưới, cơ lưng dài, cơ bán gai của ngực, cơ ngang gai, cơ ngang sườn, tuyến thượng thận.
Thần kinh vận động cơ là nhánh đám rối cánh tay, nhánh dây thần kinh gian sườn 11 và nhánh của dây sống lưng 11. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D11.
Tác dụng huyệt tỳ du
Trợ vận hóa, điều Tỳ khí, trừ thủy thấp.
Chủ trị
Trị dạ dày viêm loét, dạ dầy đau, tiêu chảy mạn tính, gan viêm, sốt sét, bệnh xuất huyết mạn tính, phong ngứa, cơ bụng liệt.
Châm cứu huyệt tỳ du
Châm xiên về cột sống 0,5– 0,8 thốn. Cứu 5–7 tráng. Ôn cứu 10 – 20 phút.
Phối hợp huyệt
1.Phối Vị (Trung) Quản (Nh.12) trị da vàng, hoàng đản (Thiên Kim Phương).
2.Phối Đại Trường Du (Bq.25) trị ăn nhiều mà vẫn gầy (Tư Sinh Kinh).
3.Phối Ấn Bạch (Ty.1) + Can Du (Bq.18) + Thượng Quản (Nh.13) trị thổ huyết, chảy máu cam (Châm Cứu Tụ Anh).
4.Phối Chiếu Hải (Th.6) + Liệt Khuyết (P.7) + Quan Xung (Ttu.1) + Trung Quản (Nh.12) trị tiêu khát (Châm Cứu Đại Toàn).
5.Phối Vị Du (Bq.21) ăn nhiều mà vẫn gầy (Châm Cứu Đại Thành).
6.Phối Hội Dương (Bq.35) trị tả lỵ lâu ngày, Tỳ Thận đều hư (Châm Cứu Đại Thành).
7.Phối Can Du (Bq.18) + Thượng Quản (Nh.13) trị nôn ra máu, mũi chảy máu (Châm Cứu Đại Thành).
8.Phối Bàng Quang Du (Bq.28) trị ăn kém tiêu do Tỳ hư (Bách Chứng Phú).
9.Phối Thính Cung (Ttr.19) trị dưới tim lạnh (Bách Chứng Phú).
10.Phối cứu Can Du (Bq.18) + Thủy Phân (Nh.9) trị thủy thũng (Cảnh Nhạc Toàn Thư).
11.Phối Cách Du (Bq.17) + Gian Sử (Tb.5) + Hành Gian (C.2) + Phục Lưu (Th.7) + Thận Du (Bq.23) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị huyết cổ (Loại Kinh Đồ Dực).
12.Phối Chí Dương (Đc.10) + Công Tôn (Ty.4) + Vị Du (Bq.21) trị hoàng đản (Thần Cứu Kinh Luân).
13.Phối Bá Hội (Đc.20) + Thận Du (Bq.23) trị tiêu chảy lâu ngày gây ra hoạt thoát (Thần Cứu Kinh Luân).
14.Phối Khí Hải (Nh.6) + Lương Môn + Thiên Xu (Vi.25) + Thận Du (Bq.23) + Vị Du (Bq.21) trị khí tích (Thần Cứu Kinh Luân).
15. Phối Ngư Tế (P.10) trị bụng đau không ăn (Thần Cứu Kinh Luân).
17. Phối Thận Du (Bq.23) + Thủy Phân (Nh.9) + Khí Hải (Nh.6) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Ủy Dương (Bq.39) trị phù thũng do hư (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).
18.Phối Vị Du (Bq.21) trị bệnh ở trung tiêu (Châm Cứu Học Thượng Hải).
19.Phối Chương Môn (C.13) + Ốc Ế trị nuốt chua (Châm Cứu Học Thượng Hải).
20.Phối Dương Lăng Tuyền (Đ.34) + Thân Mạch (Bq.62) + Thượng Quản (Nh.13) trị dạ dày xuất huyết (Châm Cứu Học Thượng Hải).
21.Phối Cách Du (Bq.17) + Di Du + Thận Du (Bq.23) + Tỳ Nhiệt Huyệt trị tiểu đường (Châm Cứu Học Thượng Hải).
22.Phối Đại Chùy (Đc.14) + Túc Tam Lý (Vi.36) + cứu Tam Âm Giao (Ty.6) trị chứng bạch tế bào giảm (Châm Cứu Học Thượng Hải).
23.Phối Vị Du (Bq.21) + Trung Quản (Nh.12) + Nội Quan (Tb.6) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tam Âm Giao (Ty.6) trị phản vị [ăn vào lại nôn ra] (Trung Hoa Châm Cứu Học).
24.Phối Đại Trường Du (Bq.25) + Thiên Xu (Vi.25) + Thượng Quản (Nh.13) + Trung Quản (Nh.12) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Vị Du (Bq.21) trị san tiết (Trung Hoa Châm Cứu Học).
25.Phối Trung Quản (Nh.12) + Chương Môn (C.13) + Thiên Xu (Vi.25) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị tiêu chảy mạn (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).
Tham khảo
Thiên Thông Bình Hư Thực Luận ghi: “Bệnh hoắc loạn thích huyệt Du bàng (Thận Du, Chí Thất) 5 lần, thích túc Dương minh thượng bàng (Vị Du) 3 lần” (Tố Vấn 28, 54).
Thiên Thích Cấm Luận ghi: “Nếu châm Tỳ Du bừa bãi, gây tổn thương Tỳ, sẽ chết trong 10 ngày. Lúc mới phát động gây chứng nuốt nước miếng không ngừng” (Tố Vấn 52).
“Hoàng đản hay ngáp, hông sườn tức, muốn nôn: Tỳ Du chủ trị” (Giáp Ất Kinh).
“Sốt rét lâu ngày không khỏi, da vàng, gầy yếu, cứu huyệt Tỳ Du 7 tráng” (Loại Kinh Đồ Dực).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Triếp Cân đó là: Huyệt ở 2 bên gân lớn của sườn giống như cái xe nối vào (Triếp) gân, vì vậy gọi là Triếp Cân (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Tiếp Cân, Trấp Cân.
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 23 của kinh Đởm.
Huyệt hội với kinh Túc Thái Dương.
Vị trí huyệt triếp cân
Trước huyệt Uyên Dịch 1 thốn, ngang giữa xương sườn thứ 5.
Giải phẫu
Dưới da là chỗ bám của cơ răng cưa to, bờ dưới cơ ngực to, các cơ gian sườn 4, bên trong là phổi. Thần kinh vận động cơ là các nhánh của đám rối thần kinh nách và dây thần kinh gian sườn 4.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Toản Trúc đó là: Huyệt ở chỗ các sợi lông mày (giống hình các gậy tre (trúc) dồn (gom) vào (toàn), vì vậy gọi là Toàn Trúc.
Tên gọi khác khác
Dạ Quang, Minh Quang, My Bản, My Đầu, Nguyên Trụ, Quang Minh, Thỉ quang, Toán Trúc, Toản Trúc, Viên Tại, Viên Trụ.
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 2 của kinh Bàng Quang.
Vị trí huyệt toản trúc
Chỗ lõm đầu trong chân mày, thẳng trên góc mắt trong.
Giải phẫu
Dưới da là cơ trán, cơ mày, cơ tháp và bờ cơ vòng mi.
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh mặt. Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Tác dụng huyệt toản trúc
Khu phong, minh mục.
Chủ trị
Trị đầu đau, mắt đau, liệt mặt.
Châm cứu huyệt toản trúc
Châm thẳng, sâu 0,3 – 0,5 thốn.
Trị bệnh về mắt, châm xiên hướng xuống đến huyệt Tinh Minh (Bq.1) .
Trị đầu đau, mặt liệt, châm xuyên đến huyệt Ngư Yêu.
Trị thần kinh hố mắt trên đau, châm xiên hướng mũi kim ra phía ngoài.
Trị đau ở trước Ấn Đường, châm luồn kim dưới da, 2 thân kim chéo nhau ở giữa Ấn Đường. Không cứu.
Phối hợp huyệt
1. Phối Hòa Liêu (Đtr.19) + Thận Du (Bq.23) + Thừa Khấp (Vi.1) + Ty Trúc Không (Ttu.23) trị đau đầu do phong (Thiên Kim Phương).
2. Phối Ngân Giao (Đ.28) + Ngọc Chẩm (Bq.9) trị mắt đỏ, giữa hàm đau (Thiên Kim Phương).
3. Phối Đầu Duy (Vi.8) trị mi mắt đau (Ngọc Long Kinh).
4. Phối Tam Gian (Đtr.2) trị mắt có màng (Châm Cứu Tụ Anh).
5. Phối Hợp Cốc (Đtr.4) trị đầu đau chảy nước mắt (Châm Cứu Học Thượng Hải).
6. Phối Dịch Môn (Ttu.2) + Hậu Khê (Ttr.3) trị mắt đỏ, có màng (Châm Cứu Học Thượng Hải).
7. Phối Hợp Cốc (Đtr.4) + Thừa Tương (Nh.24) + Tứ Bạch (Vi.2) trị cơ mặt co giật (Châm Cứu Học Thượng Hải).
8. Châm Toàn Trúc (Bq.2) xuyên Ngư Yêu + Hợp Cốc (Đtr.4) + Phong Trì (Đc.20) trị phía trước hàm đau (Châm Cứu Học Thượng Hải).
9. Phối Dương Bạch (Đ.14) + Ế Phong (Ttu.17) + Hạ Quan (Vi.7) + Khúc Sai (Bq.4) + Ty Trúc Không (Ttu.23) trị thần kinh tam thoa đau (Tân Châm Cứu Học).
10. Phối Hành Gian (C.2) + Hợp Cốc (Đtr.4) + Quang Minh (Đ.37) + Thái Dương + Thái Khê (Th.3) + Tinh Minh (Bq.1) có tác dụng làm cho mắt sáng (Châm Cứu Học Thủ Sách).
Tham khảo
Thiên Cốt Không Luận ghi: “Cảm phong tà, nếu thấy gió mà sợ gió, thích ở đầu lông mày [h. Toàn Trúc] (Tố Vấn 60, 6)
Thiên Khẩu Vấn ghi: “Con người bị hắt hơi, khí gì gây nên? Kỳ-Bá đáp: Dương khí hòa lợi, tràn đầy lên Tâm mà xuất ra ở mũi, gây nên hắt hơi, nên bổ huyệt Vinh của Túc Thái Dương ở huyệt My Bản (tức là huyệt Toàn Trúc) (Linh Khu 28, 18).
“Chứng Tỵ uyên (xoang trán viêm, xoang mũi viêm) bao giờ cũng phải châm Toàn Trúc và Đầu Duy [Vi.8] (Biển Thước Tâm Thư).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Trung Chú đó là: Thận kinh vận hành đến huyệt Âm Giao ở bụng thì rót vào bào trung, vì vậy gọi là Trung Chú (Trung Y Cương Mục).
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 15 của kinh Thận.
Huyệt giao hội với Xung Mạch.
Vị trí huyệt trung chú
Trên huyệt Hoành Cốt 4 thốn, dưới rốn 1 thốn, cách tuyến giữa bụng 0,5 thốn, ngang huyệt Âm Giao (Nh.7).
Giải phẫu
Dưới da là cân cơ chéo to của bụng, bờ trong cơ thẳng to, mạc ngang, phúc mạc, ruột non hoặc bàng quang khi bí tiểu tiện vừa, tử cung khi có thai 6 – 7 tháng.
Thần kinh vận động cơ là 6 nhánh dây thần kinh gian sườn dưới và dây thần kinh bụng – sinh dục. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D10.
Tác dụng
Tư ích Thận kinh, điều lý mạch Xung, Nhâm, sơ lợi hạ tiêu.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Trung Quản: Người xưa cho rằng từ ức (chấn thủy) đến lỗ rốn là ống (quản) dạ dầy, huyệt ở giữa (trung) đường nối này, vì vậy gọi là Trung Quản.
Tên gọi khác của huyệt trung quản
Thái Thương, Thượng Ký, Trung Hoãn, Trung Oản, Trung Uyển, Vị Quản.
Xuất xứ
Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu 10).
Đặc tính
Huyệt Hội của mạch Nhâm với các kinh Tiểu Trường, Tam Tiêu và Vị.
Huyệt Hội của Phủ.
Huyệt Mộ (chẩn đoán) của Vị.
Huyệt tập trung khí của Tỳ.
Một trong nhóm 9 huyệt Hồi Dương Cứu Nghịch.
Một trong 4 huyệt Hội Khí của Âm Dương (Quan Nguyên, Trung Quản, Thiên Đột và Chí Dương – theo thiên ‘Kinh Mạch Biệt Luận’ (Tố Vấn 21).
Vị trí huyệt trung quản
Lỗ rốn thẳng lên 4 thốn hoặc lấy ở điểm giữa của đoạn thẳng nối rốn – và đường gặp nhau của 2 bờ sườn.
Giải phẫu
Huyệt ở trên đường trắng. Sau đường trắng là mạc ngang, phúc mạc. Sau thành bụng là phần ngang của dạ dày. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D8.
Tác dụng huyệt trung quản
Hòa Vị khí, hóa thấp trệ, lý trung tiêu, điều thăng giáng.
Chủ trị
Trị dạ dầy đau, ợ chua, nôn mửa, ăn không tiêu, đầy hơi, bụng trướng, kiết lỵ, tiêu chảy, huyết áp cao, thần kinh suy nhược.
Châm cứu huyệt trung quản
Châm thẳng sâu 0,5 – 2 thốn, có thể hướng mũi kim xuyên sang 4 huyệt quanh đó bằng cách luồn kim dưới thịt. Cứu 10 – 30 phút.
Phối hợp huyệt
1.Phối Tam Âm Giao (Ty.6) trị ăn không tiêu (Tư Sinh Kinh).
2.Phối Thừa Mãn (Vi.20) trị bụng đau xuyên ra vai (Tư Sinh Kinh).
3.Phối Túc Tam Lý (Vi.36) trị hoàng đản, tay chân không có sức (Ngọc Long Kinh).
4.Phối Khí Hải (Nh.6) trị tiêu ra máu (Châm Cứu Tụ Anh).
5.Phối Cự Hư Thượng Liêm (Vi.37) + Kỳ Môn (C.14) trị suyễn cấp (Châm Cứu Đại Thành).
6.Phối Thiên Xu (Vi.25) + Trung Cực (Nh.3) trị tiêu chảy không cầm (Châm Cứu Đại Thành).
7.Phối Thiên Xu (Vi.25) trị thổ tả (Châm Cứu Đại Thành).
8.Phối Túc Tam Lý (Vi.36) trị đờm (Hành Châm Chỉ Yếu).
9.Phối Chiên Trung (Nh.17) + Khí Hải (Nh.6) trị nôn mửa (Hành Châm Chỉ Yếu).
10.Phối Quan Nguyên (Nh.4) + Thiên Xu (Vi.25) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị bụng đau (Trung Hoa Châm Cứu Học).
11.Phối Ấn Đường + Chương Môn (C.13) + Quan Nguyên (Nh.4) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị kinh phong mạn (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).
12.Phối Khí Hải (Nh.6) + Nội Quan (Tb.6) + Thiên Xu (Vi.25) trị ruột tắc cấp tính (Châm Cứu Học Thượng Hải).
13.Phối Lương Khâu (Vi.34) + Nội Quan (Tb.6) trị dạ dầy đau (Châm Cứu Học Thượng Hải).
14.Phối Thiên Xu (Vi.25) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị lỵ (Châm Cứu Học Thượng Hải).
15.Phối Túc Tam Lý (Vi.36) trị no hơi, thực đạo co thắt (Châm Cứu Học Thượng Hải).
16.Phối Âm Đô (Th.19) trị nấc cụt (Châm Cứu Học Thượng Hải).
17.Phối Dương Trì (Ttu.4) + Thượng Quản (Nh.13) trị nôn mửa lúc có thai (Châm Cứu Học Thượng Hải).
18.Phối Phế Du (Bq.13) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị ho ra máu (Châm Cứu Học Thượng Hải).
19.Phối Chí Dương (Đc.10) + Đởm Du (Bq.19) + trị vàng da (Châm Cứu Học Thượng Hải).
20.Phối Khí Hải (Nh.6) + Thần Khuyết (Nh.8) trị trúng lạnh (Châm Cứu Học Thượng Hải).
21.Phối Túc Tam Lý (Vi.36) + Vị Thượng trị dạ dầy sa (Châm Cứu Học Thượng Hải).
22.Phối Lương Môn (Vi.21) + Nội Quan (Tb.6) + Thiên Xu (Vi.25) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị dạ dầy xuất huyết (Châm Cứu Học Thượng Hải).
23.Phối Dương Trì (Ttu.4) [đều cứu] trị tử cung lệch (ra trước, sau; qua phải, trái), thoát vị (Châm Cứu Chân Tủy).
24.Phối Công Tôn (Ty.4) + Nội Quan (Tb.6) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị nôn mửa (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).
Tham khảo
“Thường kết hợp 2 huyệt Trung Quản + Ẩn Bạch (Ty.1). Trung Quản là huyệt của mạch Nhâm, cũng là huyệt Mộ của Vị, là nơi hội tụ của các phủ. Ẩn Bạch là huyệt Tỉnh của kinh túc Thái Âm Tỳ. Kinh Tỳ lấy ‘căn’ ở huyệt Ẩn Bạch, đi lên trên ‘kết’ ở huyệt Thái Thương (Trung Quản). Có khả năng bổ ích cho Tỳ Vị, điều lý khí huyết.
Hai huyệt này phối hợp với nhau có quan hệ biểu lý giữa kinh lạc với nhau và có quan hệ tạng-phủ nữa. Phối huyệt này có tác dụng kiện Tỳ, ích Vị, bổ trung ích khí, tiêu hóa thức ăn, thăng thanh, giáng trọc” (Phối Huyệt Khái Luận Giảng Nghĩa).
“Trung Quản và Vị Du là 2 huyệt thường dùng trị bệnh ở dạ dày nhưng có điểm khác nhau: Trung Quản: bổ mà trệ, thường dùng trị Vị bị thực, thường dùng phép Tả. Về bổ thì thường có tác dụng bổ trung, kiện Vị, về tả thường có tác dụng hòa Vị, tán trệ. Vị Du: bổ mà không trệ, thường dùng trị Vị bị hư. Thường dùng phép bổ. Về bổ có tác dụng bổ ích Vị khí, về tả có tác dụng sơ sướng khí cơ ở Vị phủ.
Khi có hàn tà hoặc hàn tà hợp với thực trệ ở Vị: dùng cứu tả huyệt Vị Du không hay bằng cứu tả huyệt Trung Quản (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy). “Trung Quản phối Vị Du là phép phối Bối Du huyệt + Mộ huyệt. Cả 2 huyệt đều bổ có tác dụng bổ Vị khí, tăng cường Vị phủ. Cả 2 huyệt đều tả thì tăng cường tác dụng sơ sướng khí cơ ở Vị phủ” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
Ghi chú
Không châm sâu quá vì có thể vào ổ bụng. Châm đắc khí thấy căng tức tại chỗ hoặc chạy sâu vào trong bụng hoặc xuyên ra sau lưng (Vị Du) hoặc tê vòng quanh kim. Nếu người bệnh Gan và Lách đang sưng lớn, không nên châm xiên ra 4 chung quanh.