Ý nghĩa tên gọi Huyệt Trung Đình đó là Trung = ở giữa. Đình = cái sân. Huyệt ở bên dưới huyệt Đản Trung, bên trong có tạng Tâm, được coi như cung đình. Vùng ngực được coi như sân đình. Huyệt ở giữa cung đình và sân đình, vì vậy gọi là Trung Đình (Trung Y Cương Mục).
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 16 của mạch Nhâm.
Vị trí huyệt trung đình
Chỗ 2 bờ sườn gặp nhau thành một góc nhọn (nơi người không có mũi ức), trên đường dọc giữa xương ức.
Giải phẫu
Huyệt ở trước khớp thân xương ức và mũi ức hoặc góc 2 bờ sườn gặp nhau. Có gân cơ ngực to (bó ức và bó các cơ thẳng to), cân cơ thẳng to bám vào xương.
Thần kinh vận động cơ do đám rối thần kinh nách và các dây thần kinh gian sườn. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D5.
Tác dụng huyệt trung đình
Khoan hung, lý khí, giáng nghịch, hoà trung.
Chủ trị
Trị ngực tức, ợ, nấc.
Châm cứu
Châm luồn kim dưới da hướng về phía bụng, sâu 0,3 – 1 thốn. Cứu 5 – 15 phút.
Phối hợp huyệt
1. Phối Trung Phủ (P.1) trị nghẹn, ăn không xuống, nôn không được (Tư Sinh Kinh).
2. Phối Du Phủ (Th.27) + Ý Xá (Bq.49) trị nôn mửa (Tư Sinh Kinh).
Tham khảo
“Trẻ nhỏ nôn sữa: cứu Trung Đình” (Sa Kinh Hợp Bích).
Ghi chú
Xương ức rất mềm, nhất là trẻ nhỏ, vì vậy khi châm không được để kim thẳng góc với mặt da vì có thể xuyên qua xương vào bên trong. Châm vào xương sẽ gây cảm giác đau buốt.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Trung Phủ đó là: Phủ chỉ nơi kinh khí hội tụ. Huyệt là nơi hội tụ mạch khí của kinh Phế. Giữa ngực là nơi thần khí của Phế hội tụ, vì vậy gọi là Trung Phủ (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Phủ Trung du, Ưng Du, Ưng Trung Du.
Xuất xứ
Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu 10).
Đặc tính
Huyệt thứ nhất của kinh Phế.
Huyệt Mộ nơi khí tạng Phế đến.
Huyệt Hội với Túc Thái Âm Tỳ.
Huyệt để tả Dương ở ngực (Nhiệt tà): phối hợp với Đại Cự, Khuyết Bồn và Phong Môn.
Huyệt quan trọng để chẩn đoán suy nhược thần kinh. Theo thiên Điên Cuồng (Linh Khu 22): Nếu ấn ngón tay trên những huyệt Trung Phủ, Vân Môn và Phế Du (Bq.13) bệnh nhân cảm thấy khí lên, và nếu ấn mạnh hơn sẽ cảm thấy dễ chịu. Chứng minh rằng do rối loạn vận hành, biến nên điên cuồng. Vì thế, nếu rối loạn khí kèm theo bụng trướng, bụng sôi, ngực đè ép khó thở, phải châm 3 huyệt này.
Vị trí huyệt trung phủ
Dưới cuối ngoài xương đòn gánh khoảng 01 thốn, hoặc giữa xương sườn 1 và 2, cách đường giữa ngực 06 thốn.
Giải phẫu
Dưới da là cơ ngực to, cơ ngực bé, cơ răng cưa to, các cơ gian sườn 2.
Thần kinh vận động cơ là dây thần kinh ngực to, dây thần kinh ngực bé, dây thần kinh răng to của đám rối thần kinh nách và dây thần kinh gian sườn 2. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C4.
Tác dụng huyệt trung phủ
Thanh tuyên thượng tiêu, sơ điều Phế khí.
Chủ trị
Trị ho, hen suyễn, ngực đau, vai, lưng đau, viêm khí quản, lao phổi.
Châm cứu huyệt trung phủ
Châm thẳng hoặc xiên hướng kim ra ngoài, lên trên, sâu 05 – 1 thốn. Cứu 3 – 5 tráng. Ôn cứu 5 – 10 phút.
Phối hợp huyệt
1.Phối Âm Giao (Nh.7) trị họng đau, ngực đầy tức, nóng lạnh (Thiên Kim Phương).
6.Phối Chiên Trung (Nh.17) + Định Suyễn + Nội Quan (Tb.6) trị hen suyễn (Châm Cứu Học Thượng Hải).
7.Phối Khổng Tối (P.6)+ Phế Du (Bq.13) trị hen suyễn, khí quản viêm mạn (Châm Cứu Học Thượng Hải).
8.Phối Kết Hạch Huyệt + Phế Du (Bq.13) + Phế Nhiệt Huyệt trị lao phổi (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Tham khảo
Thiên Điên Cuồng ghi: “Chứng Quyết nghịch làm cho bụng bị trướng, ruột sôi, ngực bị đầy không thở được. Nên thủ huyệt ở sườn thứ 2 bên dưới ngực (h. Trung Phủ), nơi mà bệnh nhân ho sẽ động đến đầu ngón tay. Đồng thời dùng tay ấn lên huyệt ở Bối du thì bệnh sẽ khỏi ngay” (Linh Khu 22, 38).
Thiên Thủy Huyệt Nhiệt Luận ghi: “Đại Trử, Ưng Du (Trung Phủ), Khuyết Bồn, Bối Du (Phong Môn). 8 huyệt này dùng để tả nhiệt ở trong ngực” (Tố Vấn 61, 19).
“Khuyết Bồn chủ về tả nhiệt ở trong ngực, cùng kết hợp với huyệt Đại Trử, Trung phủ và Phong Phủ” (Loại Kinh Đồ Dực) [ở đây có khác với Tố Vấn là dùng huyệt Phong Phủ thay vì Phong Môn, không biết là sai do in ấn hay không?].
“Phế Du và Trung Phủ có công dụng khác nhau. 2 huyệt là Mộ và Bối Du huyệt của Phế, trị bệnh về Phế, tuy nhiên, có điểm khác nhau:
Phế Du: trị Phế khí bất túc, Phế không tuyên giáng được, đa số dùng theo biện chứng phối huyệt. Có thể bổ hoặc tả.
Trung Phủ: trị Phế không tuyên giáng được, ngực kết ứ trệ, thường dùng theo cách lấy huyệt cục bộ để trị. Đa số dùng phép tả, ít khi dùng bổ (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Trung Phủ có giá trị trong việc chẩn đoán lao phổi và là một trong những huyệt chính để trị lao phổi” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Trung Cực đó là: Huyệt ở giữa (trung) rốn và xương mu, được coi như là 2 cực, vì vậy gọi là Trung Cực.
Tên gọi khác
Khí Nguyên, Ngọc Tuyền, Trung Trụ.
Xuất xứ
Thiên ‘Cốt Không Luận’ (Tố Vấn 60).
Đặc tính
Huyệt thứ 3 của mạch Nhâm.
Huyệt Hội của mạch Nhâm với 3 kinh âm ở chân.
Huyệt Mộ (chẩn đoán) của Bàng quang.
Là nơi tiếp thu khí của một nhánh Bàng Quang.
Huyệt hội của các kinh cân – cơ của Tỳ, Thận và Can.
Vị trí huyệt trung cực
Thẳng dưới rốn 4 thốn hoặc trên bờ xương mu 1 thốn.
Giải phẫu
Huyệt ở trên đường trắng, sau đường trắng là mạc ngang và phúc mạc. Vào sâu có ruột non khi bàng quang rỗng và không có thai; có bàng quang khi căng nước tiểu; có tử cung khi có thai. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L1 hoặc D12.
Tác dụng huyệt trung cực
Điều huyết thất bào cung, ôn tinh cung, lợi bàng quang, trợ khí hóa, lý hạ tiêu, lợi thấp nhiệt.
Chủ trị
Trị kinh không đều, thống kinh, di tinh, tiểu dầm, tiểu bí, liệt dương, xuất tinh sớm, bạch đới, hố khung chậu viêm, đường tiểu viêm nhiễm, sinh dục viêm nhiễm, phù thũng, thần kinh tọa đau, thận viêm.
Châm cứu huyệt trung cực
Châm thẳng 0,3 – 2 thốn. Cứu 15 – 20 phút.
Phối hợp huyệt
1.Phối Kiên Tỉnh (Đ.21) trị đẻ khó (Châm Cứu Đại Thành).
2.Phối Tam Âm Giao (Ty.6) trị đẻ khó, kinh nguyệt bế (Châm Cứu Đại Thành).
3.Phối Hợp Cốc (Đtr.4) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Thận Du (Bq.23) trị kinh bế (Châm Cứu Đại Thành).
4.Phối Chí Âm (Bq.67) + Lãi Câu (C.5) + Lậu Cốc (Ty.7) + Thừa Phù (Bq.36) trị tiểu không thông (Tư Sinh Kinh).
5.Phối bổ Trung Cực (Nh.3) + cứu Quan Nguyên (Nh.4) trị chứng thi quyết (Ngọc Long Kinh).
6.Phối Kiên Tỉnh (Đ.21) trị nhau thai không ra (Châm Cứu Tụ Anh).
7.Phối Âm Giao (Nh.6) + Thạch Môn (Nh.5) trị sinh xong máu dơ ra không cầm (Châm Cứu Tập Thành).
8.Phối Tam Âm Giao (Ty.6) + Ủy Dương (Bq.39) trị bí tiểu (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).
9.Phối Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Hoành Cốt (Th.11) trị di tinh, liệt dương, tảo tinh (Châm Cứu Học Thượng Hải).
10.Phối Âm Lăng Tuyền (Ty.9) + Tam Âm Giao (Ty.6) trị tiểu dầm (Châm Cứu Học Thượng Hải).
11.Phối Tam Âm Giao (Ty.6) + Tử Cung trị kinh nguyệt không đều (Châm Cứu Học Thượng Hải).
12.Châm Trung Cực (Nh.3) thấu Khúc Cốt (Nh.2) + Phục Lưu (Th.7) + Tam Âm Giao (Ty.6) thấu Tuyệt Cốt (Đ.39) + Thủy Phân (Nh.9) + Thủy Tuyền (Th.5) trị bệnh tim do phong thấp sinh ra phù bụng (Châm Cứu Học Thượng Hải).
13.Phối Địa Cơ (Ty.8) + Thứ Liêu (Bq.32) trị hành kinh bụng đau loại thực chứng (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).
Tham khảo
Trước khi châm bảo người bệnh đi tiểu để tránh châm vào bàng quang. Khi bí tiểu không châm sâu. Có thai không châm sâu.
“Thường kết hợp 4 huyệt Trung Cực + Khí Hải (Nh.6) + Quan Nguyên (Nh.4) + Tử Cung vì 4 huyệt này đều thuộc mạch Nhâm.
Dưới huyệt Trung Cực là tử cung, 3 mạch Xung, Nhâm, Đốc đều bắt nguồn từ tử cung và đi ra hội âm. Nhâm mạch đi từ hội âm rồi vận hành ở bụng. Đốc mạch đi từ hội âm rồi vận hành ở lưng. Xung mạch đi từ hội âm rồi vận hành theo kinh Thận, do đó được gọi là ‘một nguồn 3 nhánh’.
Khí Hải là biển của khí, nơi giữ nguyên khí. Quan Nguyên là nơi tàng tinh của phái nam. Trung Cực là nơi chứa huyết của phụ nữ. Trung Cực là nơi hội của Nhâm mạch và 3 kinh âm ở chân, cũng là cửa của tử cung, tử cung là nơi chứa huyết của phụ nữ.
Vì vậy, chọn huyệt Khí Hải để ích khí ở hạ tiêu, Quan Nguyên để bổ sung tinh huyết, Trung Cực để điều kinh, khai thông bế tắc. Chọn huyệt Tử Cung là dùng phép trị trực tiếp vào phần ngọn (tiêu). Kết hợp với các huyệt trên để dưỡng huyết, điều kinh, bổ nguyên khí, ấm tử cung” (Phối Huyệt Khái Luận Giảng Nghĩa).
“Huyệt Trung Cực, Âm Lăng Tuyền (Ty.9), Quan Nguyên (Nh.4), Thận Du (Bq.23) đều có tác dụng lợi tiểu tiện. Tuy nhiên có 1 số điểm khác nhau: Trung Cực: tăng khí hóa, khai thủy đạo, lợi tiểu tiện. Âm Lăng Tuyền (Ty.9): trợ vận hóa, hành thủy thấp, lợi tiểu tiện. Quan Nguyên (Nh.4): bổ nguyên dương, trợ khí hóa, lợi tiểu tiện. Thận Du (Bq.23): bổ Thận khí, ích khí hóa, lợi tiểu tiện” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Trung Cực và Thủy Phân (Nh.9) là 2 huyệt chủ yếu chữa thủy (nước) nhưng có điểm khác nhau: Huyệt Trung Cực: có tác dụng khai thông niệu khiếu, thúc ước bàng quang, thông lợi thủy đạo. Thiên về trị thủy ở hạ tiêu. Huyệt Thủy Phân: có tác dụng tuyên thông thủy khí, phân lợi thủy thấp, ôn vận thủy thấp. Thiên về trị thủy ở trung tiêu” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Trung Cực và Âm Lăng Tuyền đều có tác dụng lợi thấp nhưng có điểm khác nhau. Trung Cực: có tác dụng tả mà thanh tuyên bàng quang, khai thông thủy đạo, bổ mà thúc ước bàng quang, vận khí hóa mà lợi tiểu tiện. Chủ yếu lợi thủy thấp ở hạtiêu và trung tiêu. Âm Lăng Tuyền: có tác dụng tả mà sơ lý Tỳ khí, hành thấp, lợi thủy, khứ thấp, ích Tỳ, bổ mà kiện Tỳ thổ, khứ thấp tà. Chủ về điều lý thủy thấp ở trung tiêu và hạ tiêu” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Phối dùng Trung Cực và Bàng Quang Du là phép phối hợp huyệt Mộ và Bối Du Huyệt. Châm tả hoặc cứu tả hoặc cứu bổ huyệt Trung Cực có tác dụng ôn dương, hóa khí, hành thủy, ước thúc bàng quang và thông lợi tiểu tiện. Châm tả, cứu tả hoặc cứu bổ Bàng Quang Du đều có công hiệu tốt đối với các bệnh rối loạn khí hóa của bàng quang” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Châm Trung Cực + Âm Lăng Tuyền (Ty.9), dùng phép Thấu Thiên Lương có tác dụng giống như bài Bát Chính Tán trong sách Cục Phương” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Tả Trung Cực + tả Thông Lý (Tm.5) có tác dụng giống như bài Đạo Xích Tán của sách Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Tả Trung Cực + bổ Quan Nguyên (Nh.4), Thận Du (Bq.23) hoặc Thái Khê (Th.3) có tác dụng giống như bài Tế Sinh Thận Khí Hoàn trong sách Tế Sinh Phương” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Châm tả Trung Cực + cứu Thần Khuyết (Nh.8) + Thủy Phân (Nh.9) + Quan Nguyên (Nh.4) có tác dụng giống bài Thực Tỳ Ẩm của sách Tế Sinh Phương” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
Ghi chú
Châm đắc khí thấy căng tức tại chỗ hoặc chạy xuống bộ sinh dục ngoài.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Trung Khu đó là: Khu chỉ vùng cơ chuyển động. Huyệt ở giữa (trung) cột sống, là chỗ chuyển động của cơ thể, vì vậy gọi là Trung Khu (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Trung Xu.
Xuất xứ
Thiên ‘Khí Phủ Luận’ (Tố Vấn 59).
Đặc tính
Huyệt thứ 7 của mạch Đốc.
Vị trí huyệt trung khu
Chỗ lõm dưới đầu mỏm gai đốt sống lưng 10.
Giải phẫu
Dưới da là gân cơ thang, cân ngực – thắt lưng của cơ lưng to, cơ gai dài của lưng, cơ ngang gai, dây chằng trên gai, dây chằng gian gai, dây chằng vàng, ống sống.
Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số XI, nhánh đám rối cổ sâu và các nhánh của dây thần kinh sống. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D8.
Tác dụng huyệt trung khu
Bổ Thận, cường yêu, hoà Vị, chỉ thống.
Chủ trị
Trị cột sống đau, dạ dầy đau, mắt nhìn kém.
Châm cứu
Châm kim chếch lên, luồn dưới mỏm gai hướng vào khoảng gian đốt sống lưng 10 – 11, sâu 0,3 – 1 thốn. Cứu 10 – 15 phút.
Phối hợp huyệt
Phối Mệnh Môn (Đc.4) trị trẻ nhỏ 2 chân bị liệt (Châm Cứu Học Thuợng Hải).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Trung Phong đó là: Huyệt ở giữa (trung) mắt cá và tạng bên trong (nội phong) vì vậy gọi là Trung Phong (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Huyền Tuyền.
Xuất xứ
Thiên ‘Bản Du’ (Linh Khu 2).
Đặc tính
Huyệt thứ 4 của kinh Can. Huyệt Kinh, thuộc hành Kim.
Vị trí huyệt trung phong
Ở phía trước bờ dưới mắt cá trong 1 thốn, nơi chỗ lõm ở bờ trong gân cơ chày trước, khe khớp xương sên và xương gót, giữa huyệt Giải Khê (Vị) và Thương Khâu (Tỳ).
Giải phẫu
Dưới da là bờ trong gân cơ chầy trước, khe khớp của xương sên và xương gót. Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh chày trước. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L5.
Tác dụng huyệt trung phong
Sơ Can, thông lạc.
Chủ trị
Trị vùng bụng dưới đau, thoát vị (sán khí), tiểu không được, dương vật đau, di tinh, gan viêm.
1.Phối Hành Gian (C.2) trị tiểu buốt (Thiên Kim Phương).
2.Phối Tứ Mãn (Th.14) trị cổ trướng (Tư Sinh Kinh).
3.Phối Thần Khuyết (Th.8) + Thủy Phân (Nh.9) trị vùng rốn đau (Tư Sinh Kinh).
4.Phối Thái Xung (C.3) trị chân đau, đi đứng khó khăn (Tư Sinh Kinh).
5.Phối Hợp Cốc (Đtr.4) + Khúc Trì (Đtr.11) trị gan viêm vàng da (Châm Cứu Học Thượng Hải).
6.Phối Can Du (Bq.18) + Ế Minh trị gan viêm siêu vi (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Tham khảo
Thiên Thích Ngược Luận: “Bệnh sốt rét, phát từ Can, sắc mặt tái xanh, hay thở dài như người sắp chết, nên thích Túc Quyết Âm (h. Trung Phong) cho ra máu” (Tố Vấn 36, 9).
1.Phối Y Hy (Bq.45) trị nách đau (Thiên Kim Phương).
2.Phối Cách Du (Bq.17) + Y Hy (Bq.45) trị bụng đầy (Tư Sinh Kinh).
3.Phối Hoàn Khiêu (Đ.30) + Thận Du (Bq.23) + Thượng Liêu (Bq.31) + Ủy Trung (Bq.40) trị thần kinh hông (tọa) đau (Châm Cứu Học Giản Biên).
Tham khảo
Thiên Thích Tiết Chân Tà ghi: “Bệnh do Dương khí hữu dư và Âm khí bất túc… mồ hôi không ra được, môi nứt, bắp thịt nóng khô, họng khô, ăn uống không biết ngon dở…
Châm các huyệt Thiên Phủ + Đại Trữ, châm 3 lần, thêm huyệt Trung Lữ Du nhằm đẩy lui nhiệt tà, ngoài ra châm bổ kinh Tỳ + Phế để giải nhiệt bằng cách cho ra mồ hôi…” (Linh Khu 75, 31-37).
1.Phối Đại Chung (Th.4) + Thạch Môn (Nh.5) +Thái Khê (Th.3) + Thái Xung (C.3) + Thừa Cân (Bq.56) + Thừa Sơn (Bq.57) + Trung Quản (Nh.12) trị táo bón (Thiên Kim Phương).
2.Phối Bàng Quang Du (Bq.28) + Quan Nguyên (Nh.4) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Thận Du (Bq.23) + Trung Cực (Nh.3) trị kinh nguyệt không đều, đới hạ (Châm Cứu Học Giản Biên).
Nằm sấp thẳng 2 chân, bảo người bệnh thẳng cao 2 tay hơi nghiêng mình đi 1 ít sẽ có chỗ lõm ở 2 bên thắt lưng, ngang với chỗ lõm ở đốt sống thắt lưng thứ 4.
Huyệt ở dưới đốt sống lưng 16 đo ra 3,8 thốn. (Có sách lấy trên gai đốt sống xương thắt lưng thứ 3 đo ra 3 – 4 thốn, ở chỗ lõm)
Giải phẫu
Dưới huyệt là bản gân cơ lưng to, cơ lưng dài, cơ ngang gai, cơ gian mỏm ngang, cơ vuông thắt lưng, cơ đái – chậu.
Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L4.
Chủ trị
Trị tổn thương tổ chức mềm vùng thắt lưng, thận sa, dịch hoàn viêm, bệnh phụ khoa.
1. Phối Thận Du (Bq.23) + Ủy Trung (Bq.40) trị thắt lưng đau (Châm Cứu Học Thượng Hải).
2. Phối Thận Tích + Tỳ Tích trị thận sa (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Châm đắc khí có cảm giác căng tức ở vùng thắt lưng, có khi lan tới vùng mông. “Cách lấy huyệt Yêu Nhãn: Bảo người bệnh nằm bình thường, lấy bút chấm vào 2 chỗ lõm như hai mắt ở dưới thắt lưng, mỗi bên cứu 7 tráng.
Huyệt này các sách không có. Trong quyển Cư Gia Tất Dụng có ghi lại và nói là họ đã thử nghiệm nhiều để trị những bệnh khó, bệnh sau khi bị lao.
Vào lúc hết canh hai ngày Qúy Hợi, bảo người bệnh nằm để lấy huyệt, cứu 3 tráng” (Loại Kinh Đồ Dực).
“Yêu Nhãn là kỳ huyệt… Châm sâu 0,3 – 0, 5 thốn, cứu 3 – 7 tráng. Chủ trị suy nhược, gầy ốm, lao hạch, khí quản viêm, dịch hoàn viêm, thần kinh thắt lưng đau” (Châm Cứu Khổng Huyệt Cập Kỳ Liệu Pháp Tiện Lãm).
Tham khảo
Thần kinh vận động cơ do nhánh của đám rối cánh tay, dây sống lưng 3 và nhánh của đám rối thắt lưng.
Yêu = thắt lưng. Dương = khác với âm, ý chỉ vùng lưng. Quan = cửa ải.
Huyệt là nơi Thận dương phát triển, nó cũng là cửa ải khi dương khí đi qua, vì vậy gọi là Yêu Dương Quan (Trung Y Cương Mục).
Tên Gọi Khác Của Huyệt Yêu Dương Quan
Dương Quan.
Xuất xứ
Thiên ‘Cốt Không Luận’ (Tố Vấn 60).
Đặc tính
Huyệt thứ 3 của mạch Đốc.
Vị trí huyệt yêu dương quan
Chỗ lõm dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 4 – 5, ngang với mào chậu.
Giải phẫu
Dưới da là cân ngực – thắt lưng của cơ lưng to, chỗ bám của cân khối cơ chung rãnh cột sống, cơ ngang – gai, dây chằng trên gai, dây chằng gian gai, dây chằng vàng, ống sống.
Thần kinh vận động cơ là các nhánh dây thần kinh sống lưng. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D12.
Tác dụng huyệt yêu dương quan
Ôn huyết thất, ôn tinh cung, điều Thận khí, lợi vùng lưng và gối, khử hàn thấp ở hạ tiêu.
Chủ trị
Trị vùng thắt lưng cùng đau nhức, liệt chi dưới, kinh nguyệt không đều, di tinh, liệt dương, ruột viêm mạn, hông sườn đau, thần kinh hông đau.
Châm cứu
Châm kim chếch lên, luồn dưới mỏm gai, hướng về khoảng gian đốt thắt lưng 4 – 5, sâu 0,3 – 1,5 thốn. Cứu 10 – 20 phút.
Phối hợp huyệt
1. Phối Khúc Cốt (Nh.2) + Quan Nguyên (Nh.4) + Thứ Liêu (Bq.32) + Trung Liêu (Bq.33) + Trung Cực (Nh.3) trị bàng quang đau buốt (Trung Quốc Châm Cứu Học).
2. Phối Mệnh Môn (Đc.4) + Tuyệt Cốt (Đ.39) [Thủy châm] trị đa thần kinh viêm (Châm Cứu Học Thượng Hải).
3. Phối Thận Du (Bq.23) + Thứ Liêu (Bq.32) + Ủy Trung (Bq.40) trị lưng đau do hàn (Châm Cứu Lâm Sàng Kinh Nghiệm).