Home Blog Page 46

Tang Ký Sinh

TANG KÝ SINH dùng toàn thân cây tầm gửi Loranthus parasiticus (L) Merr. L.gracilifolius
schult hoặc Taxillus gracilifolins (Schult). Họ Tầm gửi Loranthaceae sống ký sinh trên cây dâu Morus alla L. Họ Dâu tằm Moraceae.

Tính vị: vi đắng, tính bình

Quy kinh: vào 2 kinh can, thận

Công năng chủ trị:

– Trừ phong thấp, mạnh gân cốt; dùng khi chức năng gan thận kém dẫn đến đau lưng mỏi gối; thường phối hợp với cẩu tích, ngưu tất, tục đoạn, độc hoạt, khương hoạt (độc hoạt ký sinh khang).

– Dưỡng huyết an thai, dùng trong trường hợp huyết hư dẫn đến động thai, có thai ra máu; dùng tang ký sinh 12g, a giao 12g, ngải diệp 6g hoặc tang ký sinh phối hợp với đẳng sâm, bạch truật, hương phụ, tục đoạn, đương quy.

– Hạ áp: dùng đối với bệnh cao huyết áp, phối hợp với hạ khô thảo, hoàng cầm, ngưu tất.

Liều dùng: 8-12g

Kiêng kỵ: khi mắt có màng mông không dùng

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: với liều uống 0,4-0,5g/kg thể trọng chó và mèo (đã gây mê) hạ huyết áp, còn có tác dung lợi tiểu; làm giãn mạch tai thỏ cô lập khi đã làm cứng hóa bởi cholesterol. Ngoài ra còn có tác dụng trấn tĩnh.

– Tác dụng kháng khuẩn: thuốc có tác dụng ức chế virus gây viêm chất xám cho tủy sống.

– Có thể dùng các cây Loranthus ký sinh trên các cây (chanh, cam, gạo…) vẫn cho công hiệu chữa bệnh tốt

Tang Chi

TANG CHI là cành Dâu non thu hái từ cây Dâu tằm Morus alba L. Họ Dâu tằm Moraceae
đường kính không quá 1cm, sau khi thu hái, cạo bỏ vỏ ngoài phơi qua cho mềm, sau đó thái mỏng, phơi khô, khi dùng sao vàng, hoặc trích rượu.

Tính vị: vị đắng, tính bình

Quy kinh: vào 2 kinh phế và thận

Công năng chủ trị:

– Trừ phong thấp, thông kinh lạc, trừ đau nhức ở tay và chân hoặc tay bị co rút có thể phối hợp với hy thiêm, uy linh tiên, địa cốt bì, ngưu tất.

– Chỉ ho, chủ yếu dùng đối với bệnh nhân ho do hàn phối hợp với bách bộ, cát cánh, trần bì.

– Lợi thủy: dùng trong bệnh tiểu tiện bí, đái dắt hoặc bị phù thũng, phối hợp kim tiền thảo, bạch mao căn.

– Sát khuẩn tiêu độc: dùng vỏ lụa cành dâu, lấy dao tre cạo hết vỏ ngoài, mỗi lân 20g. Sắc uống vào lúc đói, mỗi buổi sáng uống 2-3 lần.

– Hạ áp: dùng khi bị cao huyết áp. Có thể nấu nước tang chi, ngâm chân 20 phút trước khi ngủ.

Liều dùng: 8-12g

Hy Thiêm

HY THIÊM dùng bộ phận trên mặt đất phơi khô của cây Hy thiêm Siegesbeckia orientalis
L. Họ Cúc Asteraceae.

Tính vị: vị đắng cay, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh can và thận

Công năng chủ trị:

– Trừ phong thấp: dùng trong các bệnh phong thấp tê đau, thấp khớp, đau xương, chân tay tê mỏi, sống lưng đau, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với xích đồng nam thì tăng hiệu quả; hoặc dùng hy thiêm 12g, hành 8g.

– Bình can tiềm dương: dùng trong các bệnh đau đầu hoa mắt, chân tay tê dại, các bệnh cao huyết áp thường phối hợp với hạ khô thảo, bạch đồng nữ, hoặc hy thiêm, hoa hòe, mỗi vị 20g, uống dưới dạng thuốc sắc.

– An thần, dùng với bệnh nhân suy nhược, mất ngủ; có thể phối hợp với lạc tiên, lá vông, mỗi thứ 12g.

– Sát khuẩn giải độc, dùng trong bệnh sốt rét; hy thiêm 40-100g, sắc uống liền trong 3 ngày. Ngoài ra còn dùng để chữa mụn nhọt hoặc do rắn cắn, có thể giã lá và cành non đắp vào chỗ rắn cắn.

Liều dùng: 8-16g

Chú ý:

– Khi dùng có thể dùng rượu pha mật ong, rồi đổ lên cho chín, sau phơi khô, có thể làm nhiều lần như thế.

-Tác dụng dược lý: hy thiêm có tác dụng hạ huyết áp.

Bạch Mao Căn

BẠCH MAO CĂN dùng rễ của cây Cỏ tranh Imperata cylindrica P.Beauv. Họ Lúa Poaceae.

Tính vị: vị ngọt, tính hàn

Quy kinh: nhập vào 2 kinh vị và phế

Công năng chủ trị

– Trừ phục nhiệt (nhiệt độc có trong cơ thể), tiêu ứ huyết dùng trong các trường hợp nội nhiệt sinh phiền khát, phế nhiệt sinh ho, suyễn tức, khó thở, ngực đầy trướng, bí tích, vị nhiệt sinh nôn lợm, có thể dùng bạch mao căn, râu ngô, mã đề, đậu đỏ, mỗi thứ 12g, hoặc cỏ tranh 30g, râu ngô 40g, hạt mã đề 25g, cúc hoa 5g.

– Thanh phế chỉ ho: dùng bạch mao căn phối hợp với cam thảo, sa sâm để đề phòng bệnh ho gà có hiệu quả.

Liều dùng: 12-40g

Kiêng kỵ: phụ nữ có thai và những người ở thể hư hàn không có thực nhiệt không nên dùng.

Mẫu Đơn Bì

MẪU ĐƠN BÌ dùng rễ của cây mẫu đơn Paeonia suffruticosa Andr. Họ Mẫu đơn Paeoniaceae.

Tính vị: vị đắng, tính hơi tàn

Quy kinh: vào 3 kinh tâm, can, thận

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt lương huyết, thuốc do đắng, lạnh, có thể nhập vào phần huyết, có tác dụng thanh huyết nhiệt; dùng đối với các chứng chảy máu như thổ huyết, chảy máu cam, ban chẩn, thường phối hợp với tê giác, sinh địa, xích thược.

– Làm ra mồ hôi, thường phối hợp với thạch cao, miết giáp để dưỡng âm thanh nhiệt, phối hợp với sinh địa để nuôi dưỡng thận âm.

– Thanh can nhiệt, khi kinh can bị nhiệt, xuất hiện kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, đau đầu, hoa mắt, sườn đau tức, lưỡng quyền hồng, phối hợp với chi tử, sài hồ.

– Hoạt huyết, khứ ứ: dùng trong các trường hợp bế kinh, tích huyết, chấn thương sưng tím đau nhức cơ cân, có thể phối hợp với hồng hoa, đào nhân; đau nhọt trong ruột (lúc chưa thành mủ), có thể phối hợp với đại hoàng.

– Giải độc: dùng cho các bệnh mụn nhọt, sưng đau, do nhiệt độc thịnh, thường phối hợp với thuốc thanh nhiệt lương huyết, tiêu huyết, tán ứ khác như tô mộc, ngưu tất.

– Hạ huyết áp: dùng trong bệnh cao huyết áp, bệnh xơ cứng động mạch, động mạch đáy mắt bị xơ cứng teo thoái, cao huyết áp do gan (do kinh can uất hỏa) có thể phối hợp với cúc hoa, kim ngân hoa, thảo quyết minh.

Liều dùng: 8-16g

Kiêng kỵ: vị thuốc có tác dụng thông kinh, hoạt huyết cho nên không dùng cho những người có kinh nguyệt nhiều hoặc phụ nữ có thai âm hư ra nhiều mồ hôi.

Chú ý

– Vị thuốc này và địa cốt bì vừa giới thiệu trên đều có tác dụng thanh nhiệt ở phần âm, dùng để trị chứng lao nhiệt, nóng âm ỉ trong xương cốt (cốt chưng), những địa cốt bì dùng với chứng “cốt chưng” có mồ hôi, còn mẫu đơn bì dùng với chứng “cốt chưng” không có mồ hôi.

– Tác dụng dược lý: thuốc có tác dụng hạ huyết áp; nếu phối hợp với các vị vị thuốc hạ huyết áp khác thì tác dụng tăng lên nhiều. Còn có tác dụng chống viêm khớp. Có tác dụng làm cho lớp màng bên trong của tử cung động vật thí nghiệm sung huyết. Chính vì vậy mà có tác dụng thông kinh.

– Tác dụng kháng khuẩn: thuốc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, trực khuẩn biến hình, trực khuẩn mủ xanh, đại tràng, ho gà, liên cầu khuẩn và một số nấm.

Địa Cốt Bì

ĐỊA CỐT BÌ là vỏ rễ phơi khô của cây Câu kỷ Lycium chinense Mill; Ninh hạ câu kỷ
Lycium barbarum. Họ Cà Solanaceae.

Tính vị: vị ngọt, hơi đắng; tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh can, thận phế

Công năng chủ trị:

– Thanh phế nhiệt, chỉ ho: dùng đối với bệnh ho do phế nhiệt hoặc phế nhiệt mà gây suyễn tức; có thể thanh được nhiệt ở phế, nhiệt được trừ thì khí phế trong sạch, ho suyễn tự hết, thường phối hợp với tang bạch bì.

– Dưỡng thận, bổ tỳ, thư can, trừ hư nhiệt: dùng trong trường hợp thận thủy bất túc; do đó mà có tác dụng mạnh gân cốt; còn dùng trong chứng âm hư hỏa vượng.

– Hạ nhiệt chỉ thống: dùng đối với bênh hư lao, âm hư có mồ hôi, lúc nóng, lúc lạnh, đau nhức trong xương; đầu nóng hoặc sốt lâu không giảm; thường phối hợp với miết giáp, sài hồ.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người có biểu chứng chưa giải thì không nên dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: thuốc có tác dụng giải nhiệt, hạ huyết áp do giãn mạch, có tác dụng hạ đường huyết.

– Cần chú ý, hiện nay trên thị trường dùng vỏ rễ của một loại ngũ gia bì hương Acanthopanax nhập từ Trung Quốc có mùi thơm làm địa cốt bì.

– Từ vỏ thân, vỏ rễ của cây Hương gia bì Periplopca sepium trị đau khớp, tiểu đường, cao huyết áp họ thiên lý Asclepiaceae cũng làm vị địa cốt bì

Sinh Địa

SINH ĐỊA dùng rễ của cây sinh địa hoàng Rehmannia glutinosa Gaertn. Họ Hoa mõm sói
Scophulariaceae. Cần phân biệt 4 loại: tiên địa hoàng là rễ tươi chưa qua chế biến, can địa hoàng là rễ đã qua phơi sấy khô, sinh địa là rễ qua chế biến, sấy-ủ nhiều lần vị thuốc và màu đen. Thục địa là rễ qua chưng với phụ liệu như sa nhân, gừng, rượu…

Tính vị: vị đắng, tính hàn (sinh đại và can địa hoàng)

Quy kinh: vào 3 kinh tâm, can, thận

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt lương huyết: dùng đối với bệnh tà nhiệt nhập vào phần dinh, biểu hiện sốt cao, miệng khát, lưỡi đỏ tâm phiền, thường phối hợp với hoàng liên, huyền sâm, khi huyết nhiệt dẫn đến xuất huyết thì phối hợp với tê giác, mẫu đơn bì, trắc bách diệp (sao cháy), hoa hòe (sao đen).

– Dưỡng âm, sinh tân dịch: thuốc bản chất có nhiều dịch nhuận có thể dưỡng âm. Vị ngọt tính hàn có thể sinh tân dịch, cho nên có thể dưỡng âm, nhuận táo kết. Sau thời kỳ bị sốt hoặc bị nhiệt, nhiệt làm thương tổn đến tân dịch. Thường phối hợp với huyền sâm, mạch môn đông. Trường hợp do âm hư hỏa vượng bốc lên thì phối hợp với hoài sơn, trạch tả.

– Chỉ khát: sinh địa còn dùng để diều trị bệnh đái đường có kết quả, thường phối hợp với huyền sâm, cát căn, hoài sơn, tang diệp.

Liều dùng: 12-40g

Kiêng kỵ: do thuốc có nhiều dịch, bản chất của nó là trệ nhờn cho nên những người tỳ hư, bụng đầy, đại tiện lỏng và dương hư, nhiều đờm thấp nhiệt đều không dùng.

Chú ý:

– Loại sinh địa còn tươi, tính hàn lớn hơn, do đó thường dùng để thanh nhiệt lương huyết, loại khô vị ngọt, tính hàn dùng dưỡng âm, sinh tân dịch, hạ đường huyết. Thục địa qua chế biến (với gừng, sa nhân, rượu), vị ngọt, tính âm có tác dụng bổ huyết, tư âm.

– Tác dụng dược lý: sinh địa có tác dụng thúc đẩy sự ngưng kết của huyết dịch, có tác dụng cầm máu. Có tác dụng cường tim, nhất là càng rõ đối với tim đã suy nhược. Ngoài ra còn có tác dụng hạ đường huyết rất tốt, do chất catapol là một trong những iridoid có trong sinh địa.

– Tác dụng kháng khuẩn: sinh địa có tác dụng ức chế nấm ngoài da.

Tê Giác

TÊ GIÁC dùng sừng của các con tê giác; tê giác 1 sừng-Rhinocaros desmarest; loại 2
sừng Rhinoceros nicorrnis L. Họ Tê giác-Rhinerotidae

Tính vị: vị đắng, chua, mặn, tính hàn

Quy kinh: vào 4 kinh tâm, cân, vị, thận

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt lương huyết, thuốc có vị đắng, tính hàn có thể nhập vào phần huyết để thanh trừ huyết nhiệt; dùng đối với bệnh nhiệt đã nhập vào phần dinh, phần huyết, hỏa thịnh thiêu đốt, gây cuồng nhiệt, nói mê sảng, thường phối hợp với hoàng liên, liên kiều, sinh đại, huyền sâm…Trong bài thanh dinh thang cũng còn được dùng khi sốt cao của bệnh viêm não B.

– Thanh nhiệt giải độc: dùng khi rắn độc cắn.

– Chỉ huyết: thuốc có tác dụng làm mát máu, thanh nhiệt lương huyết, dùng khi thổ huyết, nục huyết, phát ban, xuất huyết dưới da, phối hợp với sinh địa, mẫu đơn bì, xích thược (trong bài tê giác địa hoàng).

– Tráng thận thủy và thanh tâm hỏa: làm cho tâm thận tương giao, âm dương cân bằng, tâm thần thanh thản, dùng tốt cho người tâm phiền, bồn chồn mất ngủ.

Liều dùng: 1-2g, dùng dưới dạng thuốc sắc, hoặc mài với nước cho uống. Khi sốt cao có thể, mài lấy dịch thuốc mà bôi vào thái dương hoặc trán (huyệt ấn đường).

Kiêng kỵ: những người không có thực nhiệt không nên dùng, người có thai khi dùng phải thận trọng. Khi dùng cần kiêng muối ăn. Có thể dùng sừng trâu, bò để thay thế, song mức độ thanh nhiệt kém, do đó dùng liều cao 40-150g mỗi lần, dưới dạng thuốc sắc.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: tê giác có tác dụng cường tim đối với tim suy nhược. Đối với mạch máu lúc đầu gây co mạch tạm thời, sau đó giãn mạch rõ rệt. Cho nên về huyết áp lúc đầu thấy tăng sau hạ.

Lô Căn

LÔ CĂN là rễ cây lau Phramites communis (L) Trin. Hoặc đoạn thân sát gốc cũng có thể
dùng làm thuốc. Họ Lúa Poaceae

Tính vị: vị ngọt, tính hàn

Quy kinh: nhấp vào 2 kinh phế và vị

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt sinh tân dịch, lợi niệu. Thuốc có vị ngọt có thể sinh tân dịch. Tính hàn có thể thanh nhiệt, có khả năng lợi niệu để bài trừ nhiệt thông qua tiểu tiện, dùng đối với bệnh nhiệt, tâm phiền, miệng khát, tiểu tiện ngắn đỏ, có thể phối hợp với đạm trúc diệp, mạch môn đông. Nếu tân dịch thương tổn, có thể dùng dịch ép của lô căn tươi cùng với mạch môn.

– Thanh phế nhiệt: dùng trong trường hợp phong thấp phạm phế nhiệt sinh ho, có thể phối hợp với kim ngân, liên kiều, tang diệp, cúc hoa, còn dùng để trị phế có mủ, phối hợp với ý dĩ, đào nhân, hạt bí đao.

– Thanh trừ nhiệt ở vị, làm hết nôn: dùng với trường hợp vị nhiệt gây nôn lợm, nấc, có thể phối hợp với trúc nhự, tỳ bà diệp.

Liều dùng: 4-16g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: thân và rễ lô căn có tác dụng giống nhau, nhưng lực thanh phế của thân mạnh hơn so với rễ. Có tác dụng hòa tan sỏi mật, có thể trị hoàng đản và viêm khớp cấp tính.

Thảo Quyết Minh

THẢO QUYẾT MINH là hạt của cây thảo quyết minh, cây muồng ngủ: cassia tora L. Họ Đậu Fabaceae

Tính vị: vị ngọt, đắng.Tính hơi hàn

Quy kinh: vào ba kinh can, đởm, thận

Công năng chủ trị

– Thanh can hỏa, giải uất nhiệt của kinh can, dùng chữa đau mắt đỏ, mắt sợ ánh sáng, nhiều nước mắt, làm sáng mắt khi bị mờ, phối hợp với cúc hoa, hoàng liên, hạ khô thảo, ngoài ra còn dùng trong bệnh can hỏa, dẫn đến đau đầu.

– Hạ áp: dùng đối với bệnh cao huyết áp, phối hợp với cúc hoa, hoa hòe.

– An thần: dùng khi tinh thần căng thẳng dẫn đến mất ngủ, phối hợp với táo nhân, lá vông.

– Nhuận tràng thông tiện: dùng trong bệnh đại tràng táo kết, đặc biệt chứng táo bón mang tính chất tập quán, có thể dùng dưới dạng bột, hoặc dạng chè hãm uống nước hàng ngày. Ngoài ra còn có tác dụng lợi mật, nhuận gan, giúp cho tiêu hóa được tốt.

Liều dùng: 20-40g

Kiêng kỵ: những người tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng, không nên dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: vị thuốc có tác dụng hạ huyết áp đối với chó mèo, thỏ thực nghiệm đã gây mê.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc 1.5%, có tác dụng ức chế tụ cầu vàng; dịch ngâm với nồng độ 1:20 ức chế một bào tử khuẩn.