Home Blog Page 47

Nhân Trần

NHÂN TRẦN dùng bộ phận trên mặt đất, phơi khô của cây nhân trần Adenosma caeruleum
R. Br. Họ Hoa mõm sói Scrophulariaceae.

Tính vị: vị đắng, cay, tính hơi hàn

Quy kinh: nhập vào 4 kinh tỳ, vị can, đởm

Công năng chủ trị

– Thanh thấp nhiệt can đởm, dùng trong bệnh viêm gan vàng da, viêm túi mật, sốt cao, tiểu tiện ít, nước tiểu đỏ, có thể sắc riêng 40g nhân trần, hoặc phối hợp chi tử cốt khí, sơn tra, hoặc dùng bài nhân trần tứ nghịch thang: nhân trần 24g, phụ tử 12g, can khương 8g, cam thảo 4g, dùng trong bệnh vàng da mà chây tay vô lực, lạnh giá. Khi viêm túi mật, sỏi mật, có thể phối hợp với uất kim, khương hoàng, bồ công anh.

– Thông kinh hoạt lạc: dùng trong bệnh kinh nguyêt không đều, hoặc khi có kinh dẫn đến đau bụng, phối hợp với ích mẫu, trần bì.

– Phát tán, giải biểu nhiệt: dùng trong bệnh vừa nóng, vừa rét, đau đầu, mũi ngạt, chảy nước mũi, có thể phối hợp với các thuốc giải biểu cay mát.

– Sáp niệu: dùng trong bệnh nước tiểu đục trắng, tiểu tiện không cầm, không nín được, dùng nhân trần phối hợp với sài hồ, mộc thông lượng bằng nhau. Song song dùng một nắm lá hẹ nấu nước xông.

Liều dùng: 20-40g

Chú ý:

– Ngoài cây nhân trần ra, còn dùng cây bồ bồ Adenosma capitatum Benth. Họ Hoa mõm sói Scrophulariaceae để làm thuốc, chữa các bệnh nói trên, đặc biệt là viêm gan hoàng đản,

Tuy nhiên tác dụng kém hơn.

– Nhân trần có tác dụng chống oxy hóa tốt.

– Ngoài ra còn có cây nhân trần tía A.bracteosi – nhân trần Tây Ninh – cùng họ với nhân trần, cũng được dùng nhiều làm thuốc với công dụng tương tự.

Khổ Sâm

KHỔ SÂM (loại khổ sâm cho rễ) Dùng rễ của cây khổ sâm, còn gọi là cây dã hòe Sophora flavescens Ait. Họ Đậu Fabaceae.

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh tâm, can, đại tràng

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt táo thấp, dùng trong các bệnh thấp nhiệt bệnh lỵ lâu ngày không khỏi, có thể phối hợp với mộc hương; cũng có thể sắc riêng vị khổ sâm với liều 4g, nước sắc 50% ngày 3 lần, mỗi lần uống 20-30ml.

– Thanh nhiệt lợi thủy, dùng trong bệnh tiểu tràng thấp nhiệt, tiểu tiện khó khăn, phối hợp với xa tiền, râu ngô.

– Khử phong sát khuẩn, làm hết ngứa: dùng với bệnh ngứa ngoài da, phụ nữ ngứa âm hô, hoặc viêm âm đạo do trùng roi, các bệnh nhọt độc, phong ngứa, dị ứng, có thể uống trong hoặc rửa ngoài.

Liều dùng: 4-16g

Kiêng kỵ: người tỳ hư, can thận hư không dùng

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: alcaloid trong rễ khổ sâm có tác dụng lợi niệu.

– Tác dụng kháng khuẩn: khổ sâm có tác dụng ức chế tụ cầu, trực khuẩn mủ xanh, nấm ngoài da, diệt trùng roi âm đạo.

Long Đởm Thảo

LONG ĐỞM THẢO là rễ của cây long đởm Gentana Bge; G. mánhurica Kitag. Họ Long đởm
Gentianaceae

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: vào kinh can, dởm, bàng quang

Công năng chủ trị

– Thanh trừ thấp nhiệt ở hạ tiêu, trừ hỏa độc ở can đởm: dùng trong các trường hợp mắt đau đỏ, sưng thũng viêm kết mạc do can hỏa dẫn đến; hoặc dùng trong bệnh can đởm thấp nhiệt, bệnh viêm vàng da; có thể phối hợp với các vị khác trong phương long đởm tả can thang: long đởm, hoàng câm, trạch tả, mộc thông, xa tiền tử, đương quy, sài hồ, cam thảo, sinh địa.

– Thanh phế hỏa: dùng trong các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm amiđam. Ngoài ra còn dùng trong bệnh viêm tai giữa, tai có mủ, bệnh viêm tinh hoàn cấp tính, có thể phối hợp với chi tử.

– Trừ hỏa độc phần dinh huyết trị bệnh thương hàn, sốt cao phát cường: dùng bột long đởm 8g quấy đều với 1 lòng trắng trứng và mật ong, có pha nước sôi để nguội mà uống. Ngoài ra trong các trường hợp sốt cao khác, gây co giật, có thể dùng long đởm.

– Bình can hạ áp: dùng chữa huyết áp cao, đau đầu, phối hợp với câu đằng, thảo quyết minh trong phương long đởm tả can thang.

– Giải độc, trừ giun đũa: long đởm 40g, sắc uống vào mỗi buổi sáng, uống lúc đói. Ngoài ra còn có thể dùng để trừ sỏi gan, sỏi mật.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người tỳ vị hư nhược âm hư phát sốt không nên dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: với lượng nhỏ (liều 0,1g) có thể xúc tiến sự phân tiết dịch vị làm tăng lương acid trong dịch vị, do đó mà dùng nó làm thuốc kiện vị. Tuy nhiên, dùng liều lớn sẽ kích thích niêm mạc dạ dày, dẫn đến nôn. Do thuốc có tác dụng hạ thấp men chuyển hóa amin, trên thực tế có thể dùng thuốc dự phòng bệnh viêm não truyền nhiễm.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc có tác dụng ức chế trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ, tụ cầu vàng.

– Long đởm có vị rất đắng, nên không dùng lâu sẽ ảnh hưởng tới tiêu hóa

Hoàng Cầm

HOÀNG CẦM là rễ phơi khô của cây hoàng cầm Scutellaria baialensis. Georgi. Họ Hoa môi
Lamiaceae

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: vào 6 kinh tâm, phế, can, đởm, đại tràng, tiểu tràng

Công năng chủ trị

– Thanh thấp nhiệt, trừ hỏa độc ở tạng phế: dùng cho các bệnh phế ung, phế có mủ, viêm phổi…gây sốt cao, hoặc trường hợp hàn nhiệt vãng lai (lúc sốt, lúc rét), trị ho do phế nhiệt.

– Lương huyết an thai: dùng trong các trường hợp thai động chảy máu, phối hợp với ngải diệp, trư ma căn.

– Trừ thấp nhiệt ở vị tràng: dùng trong các bệnh tả lỵ, đau bụng, phối hợp với hoàng liên.

– Chỉ huyết: dùng trong bệnh thổ huyết, chảy máu cam, đại tiểu tiện ra máu, băng huyết, hoặc bí tiểu tiện.

– Thanh can nhiệt: dùng chữa đau mắt đỏ.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những tỳ vị hư hàn; phụ nữ có thai không động thai không dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: nước sắc hoàng cầm có tác dụng giải nhiệt, phần genin của flavonoid có tác dụng lợi niệu. Dịch ngâm hoặc thuốc sắc có tác dụng hạ huyết áp, cầm máu, đồng thời có tác dụng tăng đường huyết.

– Tác dụng kháng khuẩn: hoàng cầm có tác dụng kháng khuẩn khá rộng, ức chế trực khuẩn bạch hầu, tụ cầu, song cầu khuẩn viêm não, song cầu khuẩn viêm phổi, liên cầu khuẩn dung huyết, trực khuẩn thương hàn, ho gà, lỵ. Đáng chú ý là phần tác dụng lại chính là phần genin của flavonoid.

– Hoàng cầm chưa qua chế biến nếu bị ẩm, thường xuất hiện màu xanh, nguyên nhân gây ra hiện tượng đó là do men baicalinase có trong bản thân hoàng cầm, thủy phân một số flavonoid thành sản phẩm khi gặp oxy của không khí, sẽ bị oxy hóa thành sản phẩm có màu xanh. Sản phẩm này có tác dụng thanh nhiệt kém đi, tác dụng kháng khuẩn giảm hẳn. Do đó trong quá trình chế biến, khi làm mềm, cần tiến hành đồ vị thuốc để diệt men, đảm bảo hoạt chất của thuốc.

Hoàng Bá

HOÀNG BÁ dùng vỏ cây hoàng bá Phellodendron chinense Schneid. Họ Cam Rutaceae.

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh thận, bàng quang, tỳ

Công năng chủ trị

– Tư âm giáng hỏa: dùng khi âm hư phát sốt, xương đau âm ỉ, ra mồ hôi trộm (đạo hãn), di tinh do thận hỏa, có thể phối hợp với sinh địa, tri mẫu, kim anh.

– Thanh nhiệt táo thấp: dùng khi hạ tiêu thấp nhiệt, ví dụ bàng quang thấp nhiệt, dẫn đến tiểu tiện ngắn đỏ hoặc buốt dắt, phối hợp với xa tiền tử, bạch mao căn. Nếu hoàng đản thấp nhiệt (viêm gan, viêm mật) thì phối hợp với nhân trần, chi tử, cốt khí củ, thiên thảo. Nếu thấp nhiệt ở vị tràng, gây tiết tả lỵ, đại tiên ra máu mủ, phối hợp với hoàng liên, mộc hương, hoặc ngũ bội tử, ngũ vị tử, phèn chua. Nếu thấp nhiệt ngưng đọng ở chân sưng gối, sưng khớp, chân mỏi đau nhức thì phối hợp với thương truật, ngưu tất.

– Giải độc tiêu viêm: dùng khi cơ thể bị thấp chẩn, lở ngứa, mụn nhọt, phối hợp với huyền sâm, sâm đại hành, chi tử. Ngoài việc dùng uống có thể nấu nước để rửa.

Liều dùng: 4-16g

Kiêng kỵ: những người tỳ hư, đại tiện lỏng, vị yếu, ăn uống không tiêu, không nên dùng.

Chú ý:

– Cũng cần phân biệt với vị thuốc làm nam hoàng bá, vỏ của cây núc nác Oroxylum indicum cũng được dùng chữa lỵ, ỉa chảy, dị ứng, mẩn ngứa, hắc lào, viêm gan, suy gan.

– Tác dụng dược lý: vị thuốc có tác dụng bảo vệ tiểu cầu. Ngoài ra còn có tác dụng lợi niệu, hạ huyết áp.

– Tác dụng kháng khuẩn: hoàng bá có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ, đại tràng, liên cầu khuẩn, ức chế nâm gây ngứa ở da.

Hoàng Liên

HOÀNG LIÊN dùng thân rễ của cây hoàng liên chân gà Coptis teeta Wall. Họ Hoàng liên
Ranunculaceae. Ngoài ra còn dùng các loại thổ hoàng liên khác như Berberis Whallichiana DC (hoàng liên gai); Mahonia bealii Carr (hoàng liên ô rô); Thalictrum foliolosum DC (thổ hoàng liên, mã vĩ thảo).

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: vào các kinh tâm, tỳ, vị

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt táo thấp: thuốc có vị rất đắng có khả năng ráo thấp. Tính hàn có thể thanh nhiệt dẫn đến tiết tả lỵ, lỵ ra máu (kể cả lỵ trực trùng và lỵ amip), viêm ruột, có thể dùng riêng hoặc dùng phối hợp với các vị thuốc khác như nam mộc hương, đinh hương, thanh bì, trần bì, tam lăng, nga truật, bán hạ, ba đậu, ô mai (bài Bi phương hóa trệ hoàn để chữa lỵ). Khi vị nhiệt gây nôn lợm có thể phối hợp với trúc nhự, bán hạ, quất bì. Nếu đại tiện bí táo thì phối hợp với ba đậu sương. Lấy bột mịn của hai thuốc trên làm thành bánh. Mặt khác nhỏ dịch củ hành có pha ít muối vào thần khuyết (rốn) của người bị bệnh, Đặt bánh hoàng liên ba đậu lên trên rốn. Dùng mồi ngải cứu đốt trên miếng thuốc nói trên.

– Thanh tâm trừ phiền, dùng khi tâm hỏa thịnh dẫn đến chững tâm bồi hộp, loạn nhịp, người bồn chồn, buồn bực, mất ngủ, niêm mạc miệng, lưỡi bị lở, phồng dộp, phối hợp với chu sa, toan táo nhân…

– Thanh can sáng mắt: dùng điều trị các bệnh do can hỏa, gây ra đau mắt đỏ, sưng phù, nước mắt chảy dòng do can đởm thấp nhiệt, phối hợp với hạ khô thảo.

– Chỉ huyết: dùng đối với những trường hợp huyết nhiệt dẫn đến chảy máu cam, nên ra máu; cần phối hợp với đại hoàng (sao cháy), hoàng cầm.

– Giải độc hạ hỏa: thuốc có khả năng giải độc mạnh; dùng đối với chứng nhiệt độc như ung nhọt độc bên trong; tà nhiệt thiêu đốt, sốt cao chóng mặt, nói mê sảng phát cuồng, có thể phối hợp với hoàng cầm, hoàng bá, mỗi thứ 8g, chi tử 12g.

Liều dùng: 2-12g

Kiêng kỵ:

Những người âm hư phiền nhiệt, tỳ hư tiết tả không nên dùng. Khi dùng có thể tẩm với nước gừng hay nước sơn thù du để giảm bớt tính lạnh của vị thuốc. Cũng cần chú ý rằng với hoàng liên, dùng liều nhỏ còn có tác dụng kiện vị, kích thích tiêu hóa, liều lớn gây nôn, tổn thương đến dịch vị.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: chất berberin, alcaloid chính của hoàng liên, ở thể nội hoặc thể ngoài đều có tác dụng tăng cường công năng của bạch cầu (đối với khả năng nuốt tụ cầu vàng). Berberin còn có tác dụng lợi mất, dùng tốt cho bệnh viêm túi mật. Ngoài ra còn có tác dụng hạ huyết áp, hạ nhiệt, hưng phấn tử cung, dạ dày, ruột.

– Tác dụng kháng khuẩn: hoàng liên có phổ kháng khuẩn rộng, ức chế đối với trực khuẩn thương hàn, đại tràng, bạch hầu, ho gà, mủ xanh, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, sông cầu khuẩn viêm não và song cầu khuẩn viêm phổi, ức chế virus cúm, ức chế một số nấm ngoài da.

Cỏ Thài Lài

CỎ THÀI LÀI (Rau trai) dùng bộ phận trên mặt đất của cây Thài lài Commelina communis L. Họ Thài lài Commelinaceae.

Tính vị: vị ngọt nhạt, tính hàn

Quy kinh: vào kinh tâm, thận

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt tả hỏa, dùng đối với bênh sốt cao, phát cuồng, phiền khát; hoặc bệnh cảm nhiệt dẫn đến sốt cao. Cũng dùng cho bệnh huyết hấp trùng; có thể dùng riêng hoặc phối hợp với thuốc thanh nhiệt khác.

– Thanh tràng chỉ lỵ: dùng đối với bệnh tả, bệnh lỵ, phối hợp với rau sam hoặc phượng vĩ thảo (cây seo gà Pteris)

– Thanh nhiệt giải độc: dùng với bệnh viện họng sưng đau, mụn nhọt rắn độc cắn.

– Lợi thủy tiêu phù thũng: dùng với bệnh phù tim, thận, dùng lợi tiểu khi có sỏi thận, sỏi bàng quang.

Liều dùng: 40-80g tươi có thể 100-160g

Chú ý:

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn đại tràng.

– Do tính thanh nhiệt của vị thuốc, người ta còn dùng làm rau ăn cho phụ nữ sau khi đẻ.

Tri Mẫu

TRI MẪU sau khi bỏ hết lớp vỏ mỏng, thái mỏng, vát, sao vàng; thân rễ cây tri mẫu
Anemarrhena aspheloides Bge. Hộ Hành Liliaceae

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: quy 3 kinh tỳ, vị, thận

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giáng hỏa, dùng khi sốt cao phiền khát. Phối hợp với thạch cao trong Bạch hổ thang. Cũng có thể phối hợp với thạch cao, liên kiều, thuyền thoái để chữa sốt cao, vật vã, mê sảng.

– Tư âm thoái chưng: dùng trong chứng âm hư hỏa vượng hoặc chứng cốt chưng trào nhiệt, tự hãn, phối hợp với mẫu đơn bì, hoài sơn, bạch phục linh, hoàng bá, sinh địa. Tràn dịch màng phổi: phối hợp với bối mẫu, sa sâm, tang bạch bì, hạnh nhân. Còn dùng trong bệnh lao phế, ho ra máu.

– Sinh tân chỉ khát: dùng khi tân dịch bị hư hao, vị táo miệng khát; phối hợp với cát căn, ngũ vị, hoài sơn, hoàng kỳ…

Liều dùng: 4-16g

Kiêng kỵ:

– Tri mẫu được coi như vị thuốc vừa dùng thanh thực nhiệt vừa thanh hư nhiệt. Những người mà phần khí thực nhiệt và âm hư hỏa vượng đều dùng được. Bệnh nhiệt do tân dịch bị tổn thương, đại tiện khô táo, nên phối hợp với sinh địa, huyền sâm để dưỡng chân âm.

– Không dùng tri mẫu cho những người tỳ hư phân nát. Hoặc những cơ địa biểu chững chưa được giải.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: tri mẫu có tác dụng hạ nhiệt. Với nước sắc lượng vừa có thể gây tê liệt trung khu hô hấp, hạ huyết áp; lượng lớn có thể làm tim bị tê liệt.

– Tri mẫu có tác dụng hạ đường huyết, ức chế ngưng kết tiểu cầu

– Tác dụng kháng khuẩn: tri mẫu có tác dụng ức chế khá mạnh với tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, trực khuẩn đại tràng và hơn 10 loại vi khuẩn khác.

Huyền Sâm

HUYỀN SÂM dùng rễ phơi khô của cây sân Scrophuaria buergeriana Miq. Hộ Hoa Mõm sói
Scrophulariaceae.

Tính vị: vị ngọt, mặn, hơi đắng, tính hàn

Quy kinh: vào các kinh phế, vị thận

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giáng hỏa, dùng khi nhiệt độc đã nhập vào phần dinh huyết, dẫn đến sốt cao, nói mê sảng; hoặc sốt quá hóa cuồng, có thể phối hợp với sinh địa, mẫu đơn bì, hoàng liên.

– Sinh tân dưỡng huyết: có thể phối hợp với các vị thuốc bổ âm như thiên môn, mạch môn trong trường hợp cơ thể bị tổn thương tân dịch.

– Giải độc chống viêm; dùng phối hợp bệnh sốt phát ban chẩn; hoặc viêm họng, viêm tai, đau mắt đỏ, mụn nhọt, có thể phối hợp với kim ngân hoa, liên kiều, hoàng liên, cát cánh. Có thể phối hợp với sinh địa, kim ngân, ké, khổ sâm để chữa bệnh vảy nến.

– Tán kết, nhuyễn kiên, làm mềm các u, khối rắn: dùng trong bệnh đởm kết hạc như bệnh loa lịch (tràng nhạc, lao hạch), phối hợp với hạ khô thảo, có thể dùng phương thuốc sau để chữa các chứng bệnh trên: huyền sâm 16g, mẫu lệ 12g, bối mẫu 8g, liên kiều 16g, hạ khô thảo 12g.

– Bổ thận, có tác dụng tư thận âm: dùng để tráng thủy, chế hỏa, thường dùng với các thuốc bổ âm khác.

– Chỉ khát: trị tiêu khát, dùng trong bệnh đái đường; phối hợp với sinh địa, mạch môn.

Liều dùng: 4-16g

Kiêng kỵ: những người có thấp ở tỳ vị, tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng không dùng. Khi dùng không nên sử dụng các dụng cụ bằng đồng để bào chế, kỵ vị thuốc lệ hộ.

Chú ý:

– Tác dụng dược lí: huyền sâm có tác dụng tăng huyết áp và cường tim nhẹ của thỏ. Nếu dùng liều cao thì tác dụng ngược lại, tức là hạ huyết áp. Huyền sâm cón có tác dụng hạ đường huyết (do các thành phần Iridoid dẫn tới)

– Tác dụng kháng khuẩn: huyền sâm có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn.

Chi Tử

CHI TỬ là quả chín phơi khô bóc vỏ của cây Dành dành Gardenia jasminoides Ellis. Họ
Cà Phê Rubiaceae.

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy Kinh: vào 5 kinh tâm, phế, can, đởm và tam tiêu

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt giáng hỏa, thanh tâm nhiệt trừ phiền: dùng trong các trường hợp tâm phiền bất an, mất ngủ do tâm hỏa; hoặc sốt cao dẫn đến điên cuồng mê sảng; có thể phối hợp với hoàng liên, hoàng cầm.

– Thanh lợi thấp nhiệt: dùng trong bệnh can đởm thấp nhiệt (viêm gan, viêm túi mật) phối hợp với nhân trần, hoàng bá. Nếu bàng quang thấp nhiệt, tiểu tiện ngắn đỏ, đi tiểu buốt, dắt, phối hợp với mộc thông, hoạt thạch; nếu kèm theo xuất huyết thì phối hợp thêm trắc bách diệp, bạch mao căn, sinh địa.

– Chỉ huyết: nhiều khi huyết nhiệt dẫn đến thổ huyết, nục huyết (chảy máu cam) đại tiểu tiện ra huyết, chi tử 8g, hoa hòe sao đen 16g, sao vàng 8g. Uống dưới dạng thuốc hãm.

– Giải độc: dùng trong bệnh mụn nhọt: chỉ tử 16g, hoàng bá 12g, cam thảo 4g. Khi bị mụn nhọt ở vú hoặc khi đau mắt đỏ, có thể dùng lá dành dành rửa sạch giã nát lấy dịch đông đặc gói vào giấy bản hoặc vải gạc, đắp lên mí mắt. Khi bị chấn thương, cơ bị sưng đau, phù nề, dùng chi tử đắp ngoài để tiêu viêm.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người tỳ hư, đại tiện lỏng không dùng

Chú ý:

– Khi dùng với tính chất chỉ huyết thì sao đen.

– Tác dụng dược lý: vị thuốc có tác dụng hạ huyết áp, trường hợp do gan gây ra, có khả năng bài tiết dịch mật (mật tiết tốt hơn khi phối hợp với cúc hoa, hạ khô thảo). Từ vỏ quả dành dành chiết xuất được chất ursolic, (277o -278oC) có tác dụng hạ nhiệt an thần, ngoài ra có tác dụng hiệp đồng với hyosiamin.

– Tác dụng kháng khuẩn: chi tử có thể ức chế được vi khuẩn gây bệnh huyết hấp trùng. Ngoài ra còn có tác dụng chữa rắn cắn (Lê Khánh Trai).

– Khi dùng với tính chất chỉ huyết, cần tiến hành sao tốn tính.