Home Blog Page 48

Thạch Cao

THẠCH CAO vị thuốc là thạch cao sống calci sufat ngậm 2 phân tử nước (CaSO4.2H2O) để
uống, còn thạch cao nung chỉ được dùng ngoài. Khi cần chế biến chỉ hơ qua lửa để khử khuẩn và các tạp chất hữu cơ bên ngoài

Tính vị: vị ngọt, cay, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh phế, vị, tam tiêu

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giáng hỏa: trừ phiền, chỉ khát có tác dụng thanh tà nhiệt của hai kinh phế và vị. Là thuốc chính để thanh nhiệt tả hỏa; thường được dùng khi phần khí bị thực nhiệt. Trên lâm sàng thường dùng cho các bệnh sốt cao, ra nhiều mồ hôi, lưỡi đỏ, miệng khát, mạch hồng, đại. Có thể phối hợp với chi mẫu, cam thảo, đại mễ ( gạo tẻ). Trong bài Bạch hổ thang. Khi sốt kèm theo nôn mửa, tân dịch hao tổn, có thể phối hợp thuốc bổ âm hoặc thuốc giáng khí, ví dụ: thạch cao 30g, trúc diệp, trúc nhự, gạo tẻm(mỗi thứ 12g), mạch môn 16g, bán hạ 8g, thị đế (tai quả hồng) 10 cái. Bài thuốc này còn được dùng trong sốt cao viêm màng não. Cũng có thể phối hợp với hoàng liên trong sốt cao, tâm phiền nhiệt.

– Thanh phế nhiệt: dùng khi phế nhiệt, phế viêm, viêm khí quản, viêm họng; có thể phối hợp với hạnh nhân, cam thảo.

– Giải độc, chống viêm: dùng khi khí huyết bị nhiệt thiêu đốt, cơ thể phát ban thì phối hợp với sinh địa, huyền sâm, mẫu đơn bì; ngoài ra còn dùng trong bệnh đau răng, đau đầu.

– Thu liễm sinh cơ: dùng khi bề mặt vết thương hoặc mụn nhọt bị lở loét, có thể phối hợp với các thuốc sau đây để dùng ngoài:

Thạch cao sống (bột mịn) 40g

Ngũ bội tử (bột) 0.1g

Phèn phi (bột) 5g

Liều dùng: 12-40g

Kiêng kỵ: những người yếu dạ dày, yếu tim, mạch vi tế, hoặc bị chứng dương hư thì không dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: thạch cao có tác dụng ức chế trung khu điều hòa thân nhiệt mà sinh ra tác dụng hạ nhiệt, đồng thời ức chế trung khu mồ hôi, do đó vị thuốc vừa có tác dụng hạ nhiệt nhưng không làm ra mồ hôi, không hao tổn tân dịch. Ngoài ra thạch cao còn ức chế sự hưng phấn của thần kinh cơ nhục. Do vậy mà có khả năng chấn kinh chống co giật. Tác dụng này là do ion Calci sau khi được hấp thu vào máu

Xuyên Tâm Liên

XUYÊN TÂM LIÊN dùng bộ phận trên mặt đất của cây xuyên tâm liên Angdrographis paniculata (Burn.f.) Ness. Họ Ô rô – Acanthaceae. Nên thu hái lá trước khi cây ra hoa

Tính vị: vị rất đắng, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh phế, can, tỳ

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt giải độc: dùng trong các bệnh mụn nhọt ung thũng, đinh độc, rắn cắn, có thể uống trong hoặc dùng ngoài dưới dạng thuốc đắp, thuốc ngâm, rửa.

– Thanh trường chỉ lỵ: dùng khi viêm ruột, lỵ, uống riêng bột xuyên tâm liên hoặc phối hợp với mộc hương, hoàng liên

– Thanh phế, chỉ khái, lợi hầu họng: dùng trong các bệnh viêm họng, viêm amiđan, ngoài ra còn được dùng trong các bệnh ho lao, ho gà, viêm đường tiết niệu.

– Thanh nhiệt táo thấp, sơ can, tiết nhiệt: dùng trong bệnh can đởm thấp nhiệt, viêm gan virus, có thể phối hợp với nhân trần, chi tử.

Liều dùng: 4-16g

Chú ý:

– Vị thuốc rất đắng, không nên dùng thời gian dài, ảnh hưởng tới tiêu hóa.

Thất Diệp Nhất Chi Hoa

THẤT DIỆP NHẤT CHI HOA dùng thân rễ của cây bẩy lá một hoa – Paris polyphylla Sm. Họ Hành Liliaceae. Cây này mọc hoang ở những nơi ẩm thấp ven suối trong rừng ở một số tỉnh như Hà Bắc, Hoàng Liên Sơn.

Tính vị: vị đắng, tính hàn, hơi có độc

Quy kinh: vào 2 kinh can và phế

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt giải độc, giảm đau, dùng trong các trường hợp mụn nhọt sưng đau, viêm họng, nhọt vú, bệnh tràng nhạc, chữa rắn cắn, lở tai; phối hợp với huyền sâm, cát cánh.

– Thanh thấp nhiệt can đởm: dùng điều trị bệnh viêm gan vàng da, có thể phối hợp theo phương sau: thất diệp nhất chi hoa 8g, bồ công anh 40g. Sắc uống.

– Giải thử, dùng chữa say nắng dẫn đến đau bụng quằn quại.

– Thanh nhiệt giáng hỏa, chỉ kinh: dùng đối với các trường hợp sốt cao hôn mê, co giật, do các bệnh viêm não dẫn đến.

– Khử đờm, bình suyễn: dùng đối với bệnh hen suyễn hoặc viêm phổi, lao phổi dùng dưới dạng bột mịn.

Liều dùng: 4-12g

Chú ý: cây có ít độc khi dùng phải thận trọng

Mần Tưới

MẦN TƯỚI dùng bộ phận trên mặt đất của cây Mần tưới – Eupatorium fortunei Turez. Họ
Cúc – Asteraceae.

Tính vị: vị hơi đắng, ngọt, tính bình

Quy kinh: vào 4 kinh can, tỳ, phế, thận

Công năng chủ trị:

– Tả hỏa giải độc: dùng với cảm mạo sốt cao, sởi, viêm phổi, các bệnh ung nhọt, rắn độc cắn, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với quỷ châm thảo, cỏ xước, cỏ thài lài.

– Giải thử, tiêu thực: dùng cành và lá chữa cảm nắng nóng, say nắng, tiêu hóa kém, bụng đầy.

– Thanh nhiệt lợi hầu họng, đặc biệt dùng phòng và trị bệnh bạch hầu, phối hợp với rễ cỏ xước, ngoài ra còn chữa amiđan.

– Thanh phế, trừ đờm dùng chữa viêm khí quản mãn tính.

– Hoạt huyết giảm đau: dùng khi bị ứ huyết do chấn thương sưng đau; phối hợp với tô mộc, hương phụ, đào nhân.

– Khai khiếu, hóa trọc, lợi tiểu

Liều dùng: 20 – 40g

Chú ý:

– Tác dụng kháng khuẩn: thuốc có tác dụng ức chế trực khuẩn bạch hầu, tụ cầu vàng. Ngoài ra còn có tác dụng trung hòa ngoại độc tố của trực khuẩn bạch hầu.

-Vị thuốc phơi khô còn dùng bảo quản cau khô tránh mốc mọt hoặc trừ bọ mạt ở gà

Rau Sam

RAU SAM (Mã sỉ hiện) Dùng toàn thân cây rau sam – Portulaca oleracea L. Họ Rau Sam Portulacaceae. Có thể dùng tươi hoặc khô, dùng tươi thì tốt hơn.

Tính vị: vị chua, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh vị, đại tràng, phế

Công năng chủ trị:

– Thanh trường chỉ lỵ: dùng để chữa bệnh lỵ, viêm đại tràng, có thể dùng riêng dưới dạng sắc hoặc phối hợp với cỏ sữa, cỏ nhọ nồi, rau má, khổ sâm cho lá, mơ tam thể.

– Giải độc chống viêm dùng để trị mụn nhọt sưng đau, viêm da; đặc biệt da bị lở ngứa có mủ, có thể lấy dịch tươi bôi vào chỗ viêm hoặc ngứa do nước ăn chân.

– Thanh phế, chỉ ho: dùng trong các bệnh phế như lao, áp xe phổi, ho gà. Có thể phối hợp với ngư tinh thảo, hoàng cầm.

– Chỉ huyết: dùng trong các chứng xuất huyết, xuất huyết tử cung, khi đẻ ra nhiều máu… phối hợp với hạn liên thảo, trắc bách diệp, địa du.

– Chỉ hãn có biểu: dùng đối với phụ nữ sau khi sinh đẻ, mà thường mồ hôi tay nhiều, dùng dịch tươi rau sam uống. Ngoài ra còn dùng rau sam tươi, giã nát đắp vào huyệt nội quan để chữa sốt rét

Liều dùng: 8-16g, tươi 50-100g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: dịch nước sắc có tác dụng hưng phấn tử cung cô lập của chuột lang, chuột cống và thỏ.

– Tác dụng kháng khuẩn: rau sam có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt, đối với trực khuẩn thương hàn, lỵ và trực khuẩn đại tràng.

Xạ Can

XẠ CAN là thân rễ phơi khô của cây xạ can Belamcanda chinensis (L.), DC. Họ Lay ơn
Iridaceae.

Tính vị: vị đắng, cay, tính hàn, có độc

Quy kinh: vào 2 kinh phế và can

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt giải độc, chữa hầu họng sưng đau, thích hợp với chứng đờm nhiệt thịnh gây ra đau họng; khi dùng có thể phối hợp với cát cánh, cam thảo trị viêm họng cấp tính, dùng xạ can 8g sắc uống, Hoặc huyền sâm, xa can mỗi thứ 8g, cũng có tác dụng chữa viêm họng, đặc biệt là phòng ngừa tái phát, nhất là các trường hợp viêm họng hạt, viêm họng mãn tính. Ngoài ra, xa can còn được dùng để chữa ung độc, mụn nhọt; đặc biệt nhọt ở vú. Ở thời kỳ đầu dùng củ xạ can, rễ hoa hiên, lượng bằng nhau, giã nhỏ đắp vào những chỗ sưng đau.

– Giáng khí phế, hóa đờm, bình suyễn: dùng trong các bệnh ho với tính nhiệt, đờm nhiều mà đặc, hoặc khó thở do co thắt khí quản

– Thông kinh hoạt lạc: dùng trong trường hợp bế kinh dẫn đến bụng và sườn căng tức, trướng đầy, phối hợp với ích mẫu, kê huyết đằng, hồng hoa.

– Lợi đại tiểu tiện: dùng trong trường hợp đại tiểu tiện bí kết. Lấy một củ xạ can tươi 6g, giã nát, vắt lấy nước uống.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người tỳ vị hư hàn không nên dùng

Chú ý:

– Vị của thuốc có vị cay tê, dễ kích thích niêm mạc đường tiêu hóa, không nên uống lúc đói.

– Ngoài thân rễ, có thể dùng lá ngậm khi viêm họng. Tuy nhiên tránh ngậm nhiều, phòng bị dộp niêm mạc miệng

Liên Kiều

LIÊN KIỀU là quả phơi khô bỏ hạt của cây liên kiều Forsythia suspensa. Vahl. Họ Nhài
Oleaceae.

Tính vị: vị đắng, cay, tính hơi hàn

Quy kinh: vào 2 kinh tâm, phế

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt giải độc, tán kết dùng điều trị các bệnh mụn nhọt sưng đau, tràng nhạc, (bệnh hoa lịch), phối hợp với kim ngân hoa, bồ công anh, mỗi thứ 12g

– Thanh nhiệt giải biểu nhiệt: thuốc có tác dụng trị ngoại cảm phong nhiệt; thường dùng ở thời kỳ đầu có sốt cao, sợ gió, phối hợp với kim ngân, bạc hà, kinh giới, lô căn, cam thảo. Trường hợp sốt xuất huyết có thể phối hợp với kinh giới, cam thảo. Liên kiều có trong thành phần của phương ngân kiều tán.

Liều dùng: 8-20g

Kiêng kỵ: Không dùng liên kiều khi ung nhọt đã vỡ mủ, loét

Chú ý:

– Hạt liên kiều có tác dụng thanh tâm nhiệt, lương huyết dùng khi nhiệt tà nhập kinh tâm gây sốt cao mê sảng.

– Tác dụng dược lý: liên kiều có tác dụng cường tim, lợi niệu, chống nôn, tăng sức bền của mao mạch.

– Tác dụng kháng khuẩn: dịch sắc liên kiều có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ, thương hàn, đại tràng, mủ xanh, ho gà, lao, tụ cầu khuẩn, song cầu khuẩn viêm phổi, liên cầu khuẩn tan máu, virus và một số nấm ngoài da

Mật Gấu

MẬT GẤU (Hùng đởm) Dùng mật phơi khô của gấu ngựa hoặc gấu chó… Ursus sp. Họ Gấu Ursidae

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: Vao 3 kinh cam, tâm đởm

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giải độc, dùng đối với bệnh do hỏa độc, dẫn đến mụn nhọt sang lở, sưng đau đặc biệt đối với đau đớn của bệnh trĩ, có thể hòa tan trong nước nóng, rồi bôi.

– Thanh nhiệt giáng hỏa, dùng trong bệnh sốt cao dẫn đến co giật, hoặc bệnh kinh phong, điên giản. Phối hợp với câu đằng.. sắc lấy nước, rồi hòa với mật gấu để uống.

– Thanh can hỏa tan màng mộng ở mắt, khi can hỏa mắt sưng đau, mắt có màng mộng: dùng mật gấu hòa trong nước rồi lấy dịch trong, nhỏ vào mắt. Trường hợp viêm gan, hôn mê gan: sắc nước nhân trần rồi hòa mật gấu, uống. Hoặc uống riêng để chữa xơ gan.

– Hoạt huyết, giảm đau: dùng trong trường hợp sưng tấy ứ huyết đau đớn do chấn thương. Dùng mật gấu hòa trong rượu, xoa và bóp vào nơi bị sang chấn; có tác dụng rất tốt. Ngoài ra còn dùng chữa đau bụng và chữa giun đũa.

Liều dùng: uống 1-2g

Kiêng kỵ: những người bị đau do hỏa bị uất, trạng thái thức nhiệt thì không dùng. Không nên dùng liều cao hoặc kéo dài, dễ ảnh hưởng đến trạng thái thần kinh. Không dùng với sinh địa, phòng kỷ.

Chú ý:

– Phối hợp với băng phiến (bocneol) chữa viêm sưng màng tiếp hợp hoặc tắc nghẽn bề mặt thì giác.

– Dùng dạng cồn để xoa bóp chỗ sưng đau

– Hiện nay việc nuôi gấu lấy mật đang phát triển. Tuy vậy cần chú ý phân biệt giả mạo với các loại mật khác (bò, lợn…)

Ngư Tinh Thảo

NGƯ TINH THẢO (Cây diếp cá) Bộ phận dùng trên mặt đất của Houttuynia cordata Thumb. Họ Lá giấp Saururaceae.

Tính vị: vị cay chua, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh phế, đại tràng, bàng quang

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giải độc, tiêu ung thũng; dùng trong các trường hợp phế nhiệt, phế ung, phế có mủ (các trường hợp viêm phổi apces phổi…), viêm khí quản, lao, ho ra máu; dùng ngưu tinh thảo tươi 50g giã, vắt lấy nước cốt, uống. Hoặc phối hợp với hoàng cầm, huyền sâm hoặc dùng chữa mụn nhọt, tắc tia sữa.

– Thanh thấp nhiệt đại tràng. Trường hợp tiết tả lỵ, thoát giang (lòi dom). Riêng trường hợp lòi dom, còn dùng lá giã nát rồi đắp vào, hoặc xông rửa dom.

– Thanh nhiệt giáng hỏa, dùng trong các trường hợp sốt cao do viêm họng hoặc các nguyên nhân khác, hoặc sốt rét.
– Thanh thấp nhiệt bàng quang: dùng khi viêm bàng quang, dẫn đến bí tiểu tiện, phối hợp với mã đề, râu ngô, bạch mao căn, Trường hợp sỏi đường tiết niệu, dẫn đến bí tiểu tiện, có thể dùng ngư tinh thảo 40g, xa tiền tử 20g, kim tiền thảo 40g. Đối với những cơ thể đã quen thuốc kháng sinh, dùng ngư tinh thảo thường có hiệu quả.

– Thanh can sáng mắt: dùng trong trường hợp đau mắt đỏ, mắt có nhiều dử, mắt bị viêm nhiễm; đặc biệt bị viêm nhiễm do vi khuẩn mủ xanh. Dùng lá tươi uống và đắp ngoài.

Liều dùng: 12- 20g, tươi 40-100g

Chú ý:

– Tác dung dược lý: Thành phần quexetin và muối kali của ngư tinh thảo có tác dụng lợi niệu.

– Tác dụng kháng khuẩn: dịch ép lá tươi của ngư tinh thảo có tác dụng ức chế tụ cầu vàng. Nước sắc 1:1 ức chế vi khuẩn viêm phổi, liên cầu khuẩn tan huyết, trực khuẩn biến hình, trực khuẩn bạch hầu, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh.

Bồ Công Anh

BỒ CÔNG ANH (Rau diếp dại) Dùng bộ phận trên mặt đất của cây Bồ công anh Lactuca indica L., hoặc cây Taraxaum officinale Wigg (còn gọi là bồ công anh Trung Quốc). Họ Cúc Asteraceae. Cả hai cây này đều mọc hoang hoặc được trồng nhiều ở địa phương. Riêng cây bồ công anh Trung Quốc mọc nhiều ở vùng núi nước ta như Sa Pa (Lào Cai)

Tính vị: vị đắng, ngọt, tính hàn

Quy kinh: vào hai kinh can và tỳ

Công năng chủ trị

– Thanh can nhiệt, dùng đối với bệnh đau mắt đỏ, phối hợp với hạ khô thảo, thảo quyết minh.

– Giải độc tiêu viêm dùng trong các trường hợp mụn nhọt, đặc biệt là nhọt vú, nhọt trong ruột, dùng để trị bệnh viêm ruột thừa cấp tính: bồ công anh 12g, tạo giác thích, hậu phác, đại hoàng mỗi thứ 12g. Nếu da bị mụn nhọt, lở loét dùng bồ công anh sắc uống lượng 20-50g, hoặc thêm cúc hoa, kim ngân hoa, mỗi thứ 12g, cam thảo 6g. Bồ công anh còn được dùng để tiêu viêm trừ mủ trong các trường hợp viêm tai, viêm đường tiết niệu, viêm gan virus, viêm dạ dày cấp. Trong những trường hợp tiêu viêm, có thể phối hợp với ké ngựa, cỏ mần trầu, kinh giới, kim ngân, nhân trần, hạ khô thảo. Ngoài ra còn dùng giải độc khi rắn cắn.

– Lợi sữa, giảm đau: dùng đối với phụ nữ sau khi đẻ ít sữa, bị tắc tia sữa, dẫn đến sưng tuyến vú, đau đớn. Dùng lá bồ công anh tươi, giã nát, vắt lấy nước cốt uống, bã đắp

– Kiện vị chỉ nôn: dùng để kích thích tiêu hóa trong các trường hợp tiêu hóa bất chấn, ăn không ngon miệng, đầu trướng bụng do khí tích ở vị tràng.

Liều dùng: 8-20g, tươi có thể đến 60g

Kiêng kỵ: những người có ung nhọt thuộc thể hư hàn thì không nên dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: bồ công anh có tác dụng lợi mật, nhuận tràng, tăng cường loại trừ chất độc, chất gây ô nhiễm qua gan, thận.

– Tác dụng kháng khuẩn: vị thuốc có tác dụng ức chế lỵ khuẩn Sh.flexneri và Sh.shiga.