Home Blog Page 49

Kim Ngân Hoa

KIM NGÂN HOA (Nhẫn đông hoa) dùng hoa phơi khô của cây kim ngân Lonicera japonica Thumb. và một số loài Lonicera khác cùng chi L.dasystyla Rehd; L.cònura DC. và L. cambodiana Pierre. Họ Kim ngân Caprifoliaceae. Ngoài ra còn dùng dây cành, lá kim ngân (kim ngân đằng) để làm thuốc.

Tính vị: vị ngọt, đắng, tính hàn.

Quy kinh: vào 4 kinh phế, vị, tâm, kỳ

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giải độc: do thuốc có tính hàn có thể thanh nhiệt, vị ngọt hơi đắng có thể giải độc; được dùng trong các trường hợp nhiệt độc sinh mụn nhọt, đinh độc, nhọt vú, nhọt trong ruột, dị ứng, mẩn ngứa. Khi dùng có thể phối hợp với kinh giới, bồ công anh, tạo giác thích, cúc hoa, sài đất…

– Thanh thấp nhiệt ở vị tràng, dùng chữa lỵ, phối hợp với hoàng liên, rau sam…

– Thanh giải biểu nhiệt, thuốc có thể chất nhẹ, tính chất tuyên tán, có thể dùng trong các trường hợp ngoại cảm phong nhiệt, ôn nhiệt sơ khởi (bệnh sốt nóng ở thời kỳ đầu), thường phối hợp với liên kiều, bạc hà, kinh giới.

– Lương huyết chỉ huyết: kim ngân hoa sao vàng sém cạnh, chữaa tiểu tiện ra máu.

– Giải độc sát khuẩn: dùng trong bệnh sưng đau của hầu họng, viêm amiđan, đau mắt đỏ, có thể dùng phương thuốc sau để phòng bệnh viêm não: kim ngân hoa 20g, bồ công anh 20g, hạ khô thảo 20g. Hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác để chưa viêm ruột thừa cấp tính: kim ngân hoa 12g, mạch môn 40g, địa du 40g, hoàng cầm 16g, cam thảo 12g, huyền sâm 80g, ý dĩ 20g, đương quy 8g.

Liều dùng: 12-20g (hoa)

Kiêng kỵ: những người ở thể hư hàn, hoặc những trường hợp mụn nhọt đã có mủ vỡ loét không nên dùng

Chú ý:

– Dây kim ngân (kim ngân đằng) vị đắng tính hàn, tác dụng thanh nhiệt giải độc (yếu hơn hoa kim ngân); tác dụng lưu thông kinh lạc; dùng trong các bệnh về gân, lạc, đau nhức; có thể phối hợp với ty qua lạc (xơ mướp), ý dĩ.

– Tác dụng kháng khuẩn: kim ngân có phổ kháng khuẩn rộng, ức chế nhiều loại vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, đại tràng, ho gà, mủ xanh, bạch hầu, lao, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, song cầu khuẩn viêm phổi. Ngoài ra còn có tác dụng ức chế một số nấm ngoài da.

Tây Qua

DƯA HẤU (Tây qua) dùng ruột quả và vỏ quả cây Dưa hấu Citrullus vulgaris Schrad; C.lanatus (thunb) Matsum et nakai. Họ Bí Cucurbitaceae.

Tính vị: vị ngọt nhạt, tính hàn

Quy kinh: vào 2 kinh tâm, vị

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giải thử, dùng khi thương thử, ra nhiều mồ hôi, tâm phiền, miệng khát. Lấy dịch tươi của tây qua trị chứng thương thử, sốt ra nhiều mồ hôi. Có thể phối hợp với hà diệp tươi, kim ngân hoa, hoa biển đậu tươi, búp lá tre tươi. Sắc uống.

– Thanh nhiệt có lợi niệu: dùng trong bệnh thấp nhiệt, hoàng đản, bụng trướng. Tiểu tiện nhiệt không thông dùng bài Tây qua tán: tây qua, sa nhân, tỏi. Lấy quả dưa hấu trích một lỗ đủ để nạo hết phần ruột đỏ, cho sa nhân và tỏi vào, đậy nắp vỏ (chỗ vỏ trích). Dùng đất hoàng thổ (dưới dạng nhão), trát kín toàn bộ quả dưa. Sấy trên lửa khô, bỏ lớp đất bên ngoài, nghiền toàn bộ quả dưa đó thành bột mỗi lần uống 4g chiêu với nước sôi để nguội

Liều dùng: 40-100g

Kiêng kỵ: không dùng cho thể tỳ vị hư hàn và bệnh hàn thấp.

Chú ý: do thành phân chứa nhiều vitamin C, A, caroten, lycopin, mannitol đường và acid hữu cơ, giúp việc bổ sung lượng tân dịch bị hao tổn.

Đậu Quyển

ĐẬU QUYỂN là hạt cây đậu đen Vigna cylindrica Skeels. Họ Đâu Fabaceae sau khi nẩy mầm
đem phơi khô.

Tính vị: vị ngọt, tính bình

Quy kinh: quy kinh vị

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giải thử: dùng với chứng ôn thử hoặc thấp thử hoặc cảm mạo…biểu hiện bệnh sốt cao. Có thể phối hợp với hoắc hương, uất kim, ý dĩ, hạnh nhân, bán hạ, trúc diệp, hoạt thạch.

Liều dùng: 12-20g

Kiêng kỵ: nếu không thấp nhiệt thì không dùng

Chú ý: Có thể dùng khi đại tràng thực nhiệt gây táo bón

Hà Diệp

HÀ DIỆP (Lá sen) là lá Sen, thường dùng ở dạng tươi của cây Sen Nelumbo nucifera Gaertn. Họ Sen Nelumbonaceae.

Tính vị: vị đắng, tính bình

Quy kinh: vào 3 kinh can, tỳ, vị

Công năng chủ trị

– Thanh nhiệt giải thử, dùng khi cảm thụ bởi thử nhiệt gây đau đầu, đau răng, miệng khô, họng khát, tiểu tiện ngắn đỏ. Có thể dùng phối hợp với lô căn tươi mỗi thứ 40g, hoa đậu ván trắng 8g, sắc uống. Cũng có thể dùng 20g lá sen, giã nát, thêm nước sôi để nguội, vắt lấy nước cho uống, trong trường hợp trúng thử mà triệu chứng vừa
nôn vừa ỉa chảy.

– Khứ ứ chỉ huyết: dùng cho các chứng xuất huyết. Lá sen tươi 80g, trắc bách diệp 16g, ngải diệp (sao đen) 12g, sinh địa 40g. Sắc uống

Liều dùng: 4-12g (lá khô); tươi 40-80g

Chú ý: khi dùng để chỉ huyết lá sen cần sao cháy.

Nhục Quế

QUẾ NHỤC là vỏ thân, vỏ cành cây Quế cinnamomum cassia Prese, hoặc các loài quế khác
(C.cassia Blume, C.zeylanicum Blume). Họ Long não Lauraceae.

Tính vị: vị cay, ngọt. Tính đại nhiêt, có ít độc

Quy kinh: vào 3 kinh can, thận, tỳ

Công năng chủ trị

– Hồi dương, dùng trong trường hợp dương hư nhược, chân tay lạnh giá, co quắp; phối hợp với cẩu tích, phụ tử, can khương.

– Khứ hàn giảm đau, thông kinh hoạt lạc, dùng đối với bệnh đau bụng dữ dội do hàn nhập lý, tiết tả, nôn mửa, dùng quế mài lấy nước uống hoặc thái nhỏ hãm với nước sôi, có thể phối hợp với can khương: nhục quế 4g, can khương 2g ngoài ra còn dùng khi tỳ vị hư nhược, sôi bụng, lạnh bụng, đại tiện lỏng lâu ngày không khỏi, phối hợp với đại hồi, vân mộc hương. Phụ nữ khi có kinh nghuyệt mà đau bụng, có thể dùng quế phối hợp với hương phụ.

– Ấm thận hành thủy, dùng đối với trường hợp dương khí hư nhược, phù thũng tiểu tiện khó khăn, đặc biệt phù nặng ở mu bàn chân.

Liều dùng: 2-6g

Kiêng kỵ: phụ nữ có thai, những người âm hư dương thịnh, không được dùng.

Dùng lâu, liều cao, thường dẫn đến nhức đầu táo bón.

Chú ý

– Tác dụng dược lý: chất aldehyd cinamic thành phần chính trong tinh dầu quế có tác dụng hạ nhiệt ở thỏ với liều 250-500mg/kg, giảm hoạt động tự phát, kéo dài thời gian ngủ của chuột khi dùng kèm với thuốc barbiturat.

– Tác dụng kháng khuẩn: ức chế hoạt động của trùng roi, với nồng độ 1/100.

Tinh dầu quế thanh có tác dụng diệt lỵ amip, B.mycoides Staphylococcus aureus, Streptococcus haenoliticus, Pseudo-monas aeruginosa, Shigella syphy, Sh, flexeneri.

Phụ Tử

PHỤ TỬ (chế) từ sinh phụ tử, sau khi chế biến bắng nhiều phương pháp khác sẽ thu được phụ tử chế với các tên khác nhau như hắc phụ, bạch phụ, diêm phụ, dưới một tên chung cho các vị thuốc này là phụ tử chế. Phụ tử chế là sản phẩm làm thuốc được chế từ những củ nhánh của cây Ô đầu Aconitum carmichaeli Debx. Họ Hoàng liên Ranunculaceae.

Tính vị: vị cay, ngọt; tính đại nhiệt, có độc

Quy kinh: qua ba kinh tâm, thận, tỳ

Công năng chủ trị

– Hồi dương cứu nghịch, dùng trong trường hợp tâm thận dương hư; mồ hôi tự vã ra, nôn nhiều, người lạnh toát, chân tay co quắp, mạch nhỏ muốn tuyệt; phối hợp với can khương, cam thảo (tứ nghịch thang) có thể dùng phương thuốc trên thêm nhân sâm (tứ nghịch gia nhân sâm)

– Khứ hàn, giảm đau: dùng trong chứng phong hàn, thấp, tý, đau nhức xương khớp, chân tay đau nhức, lạnh có thể phối hợp quế chi, can khương.

– Ấm thận hành thủy: dùng với bệnh viêm thận mãn tính hoặc chức năng thận kém, dương khí không đủ, lưngg gối đau lạnh, nhất là những người già cả chức năng thận kém, chân tay phù nề, dùng phụ tử gia quế nhục trong bài lục vị (thành bài bát vị).

– Kiện tỳ vị dùng khi tỳ vị hư hàn

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người âm hư dương thịnh, phụ nữ có thai không dùng, trẻ em dưới 15 tuổi không dùng.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: nước sắc phụ tử chế 5g/kg chuột, uống 5 ngày liền có tác dụng chống viêm, ngoài ra còn có tác dụng cường tim nhẹ đối với tim ếch, thỏ cô lập.

Sau khi chế biến, alcaloid aconitin – thành phần chính trong dễ ô đầu, dưới tác dụng của nhiệt độ và phụ liệu đã chuyển thành aconin, aconin có độ độc kém hơn aconitin nhiều lần mà lại có tác dụng cường tim.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc phụ tử có tác dụng ức chế đối với một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn.

– Cần nhớ thêm rằng, nếu rễ ô đầu không qua chế biến thì chỉ dùng ngoài dưới dạng thuốc cồn xoa bóp, không được uống trong vì rất độc.

Qua các phương pháp chế khác nhau, hàm lượng aconitin có thể thay đổi và giảm đi rõ rệt. Từ dạng sống, hàm lượng đó là 0.147%; sau khi đồ hoặc nấu thì còn 0.058%, dùng phương pháp cô áp suất nhiệt độ còn 0.071%

Xuyên Tiêu

XUYÊN TIÊU là quả chín phơi khô của cây xuyên tiêu Zanthoxylum nitidum DC. Họ Cam
Rutaceae. Khi dùng cần sao qua.

Tính vị: vị cay, tính ấm, hơi có độc

Quy kinh: phế, vị, thận

Công năng chủ trị

– Ôn trung chỉ thống: dùng khi bụng ngực đau lạnh, đau bụng lỵ. Phối hợp với đẳng sâm, can khương. phương này có thể dùng trị nôn khan, có thể phối hợp với phụ tử chế 12g, can khương, xuyên tiêu đều 6g để chữa đau bụng ỉa chảy (phương này không dùng cho trẻ em).

– Khử trùng tiêu tích. Dùng khi đau bụng do giun. Nếu có giun đũa đau bụng nôn nhiều thì phối hợp với hoàng liên, hoàng cầm, cam khương, ô mai, đảng sâm, chỉ thực, bán hạ.

Liều dùng: 4-8g

Dùng ngoài có thể tới 16g (cùng với hoàng liên ngâm rượu để trị ngứa)

Kiêng kỵ: không dùng xuyên tiêu trong trường hợp bị chứng âm hư hỏa vượng

Chú ý:

– Quả xuyên tiêu khô dùng để bảo quản tắc kè khô để tránh sâu mọt phá hủy.

Cách làm: cứ một lớp tắc kè lại rắc một ít quả xuyên tiêu.

– Hạt quả xuyên tiêu vị đắng, tính hàn có tác dụng lợi niệu, tiêu phù, dùng khi
tiểu tiện bí dắt.

Can Khương

CAN KHƯƠNG (Gừng khô) là thân rễ phơi khô của cây gừng Zingiber officinale Ross. Họ Gừng Zingiberaceae.
Khi dùng cần thái phiến dày 1-1,5mm và tùy theo các trường hợp có thể chế biến khác nhau.

Tính vị: vị cay, tính ấm

Quy kinh: tâm, phế, tỳ, vị

Công năng chủ trị

– Ôn trung hồi dương, dùng khi tỳ vị hư nhược, chân tay quyết lạnh, phối hợp với phụ tử chế, cam thảo (phương tứ nghịch).

– Ôn trung chỉ tả, dùng khi hàn gây tiết tà bụng sôi, phân nát lỏng, phối hợp với cao lương khương đồng lượng, nghiền bột hoặc làm viên (phương Nhị khương).

– Ấm vị chỉ nôn, dùng khi hàn tà phạm vị gây nôn ra nước dãi, phối hợp với bán hạ chế (phương bán hạ can khương tán); cũng có thể phối hợp với bán hạ, nhân sâm (Can khương nhân sâm bán hạ hoàn) để trị chứng nôn lợm do lạnh.

– Ấm kinh chỉ huyết, dùng cho các trường hợp xuất huyết (thổ huyết, băng huyết, tiện huyết) do tính hư hàn. Trường hợp này can khương phải sao tồn tính (sao đen) mỗi lần uống 2-4g. Trường hợp phụ nữ băng huyết có thể thêm tông lư thán, ô mai thán.

– Ôn phế chỉ khái, dùng khi hàn ẩm phạm phế, gây ho, khí, suyễn. Phối hợp với hoàng cầm, phục linh, cam thảo, ngũ vị tử, tế tân (cầm cam ngũ vị khương tân khang)

Liều dùng: 2-6g

Kiêng kỵ: âm hư có nhiệt không dùng. Phụ nữ có thai dùng thận trọng

Chú ý: can khương thiên về ôn tỳ dương, chỉ nôn chỉ tả.

Đinh Hương

ĐINH HƯƠNG là nụ hoa phơi khô của cây Đinh hương Syzygium aromaticum (L) Merill et L.
M. perry; Syn. Eugenia caryphyllus (C.spreng) Bull. et Harr. Họ Sim Myrtaceae

Tính vị: vị cay,tính ấm

Quy kinh: vào 4 kinh phế, tỳ, vị, thận

Công năng chủ trị

– Ôn trung giáng nghịch, kiện vị chỉ nôn; dùng khi đau bụng do hàn, sôi bụng, ỉa chảy; phối hợp thị đế, can khương. Phối hợp với các vị thuốc hóa thấp khác để chữa viêm đại tràng.

– Giảm đau: dùng trong các bệnh đau răng đau lợi; phối hợp bạch chỉ, thế tân, bạc hà. Cũng có thể chỉ ngậm riêng đinh hương để giảm đau răng

Liều dùng: 2-6g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: vị thuốc có tác dụng làm sung huyết dạ dày, tăng phân tiết dịch tiêu hóa, tăng nhu động vị tràng.

– Hiện nay đinh hương còn phải nhập, tuy nhiên trước đây ở Việt Nam có di thực cây đinh hương trồng lên tốt.

Cao Lương Khương

CAO LƯƠNG KHƯƠNG (Củ riềng) là thân rễ của cây Riềng Alpinia officinarum Hance. Họ Gừng Zigiberaceae

Tính Vị: vị cay, tính nhiệt

Quy kinh: vào 2 kinh tỳ, vị

Công năng chủ trị

– Ôn trung chỉ thấu, dùng trong các bệnh đau bụng do lạnh, bụng đầy trướng, nôn, ỉa chảy, tiêu hóa bất chấn, phối hợp với hương phụ (bài khương phụ hoàn) hoặc phối hợp hoắc hương, đại hồi, quế nhục.

– Giải độc, giải nhiệt, dùng trong các trường hợp sốt do hàn, hoặc sót rét, cao lương khương, can khương bằng lượng 40g. Cao lương khương trích dầu vừng. Nghiền mịn các vị thuốc rồi hòa với mật lợn, làm viên ngày uống 15-20 viên.

Liều dùng: 4-8g

Kiêng kỵ: những âm hư hỏa vượng, táo bón không nên dùng