Home Blog Page 50

Thảo Quả

THẢO QUẢ dùng quả chín phơi khô của cây thảo quả amomum aromaticum Roxb. Họ
Gừng Zingiberaceae.

Tính vị: vị cay, tính nhiệt

Quy kinh: vào hai kinh tỳ, vị

Công năng chủ trị

– Làm ấm bên trong, giảm đau (ôn trung, chỉ thống); dùng đối với các trường hợp do hàn thấp tích lại, dẫn đến trướng đầy, đau bụng; có thể phối hợp với hoắc hương, hậu phác, thành bì, bán hạ.

– Kiện tỳ vị, tiêu thực, dùng trong bệnh tỳ vị hư nhược, ăn uống không tiêu, đau bụng đi tả, hay bị nôn lợm; do tính chất của thuốc có tác dụng kích thích tăng tiết dịch tiêu hóa, kích thích ăn ngon miệng.

– Trừ ác nghịch; dùng trị sốt rét. Thường dùng với bệnh sốt rét rét nhiều, sốt ít; hoặc chỉ rét mà không sốt, khi dùng có thể phối hợp với binh lang, thường sơn. Ngoài ra Lê Khánh Trai và cộng sự thấy thảo quả có tác dụng chữa rắn cắn.

Liều dùng: 2-8g

Kiêng kỵ: những người không có hàn thấp thực tà không nên dùng

Chú ý: thảo quả còn được làm gia vị để kích thích tiêu hóa

Thanh Hao

THANH HAO dùng cành và lá của cây Thanh hao Artemisia apiaceae Hance. Họ Cúc
Asteraceae.

Tính vị: vị đắng, tính hàn

Quy kinh: vào hai kinh vị can và đởm

Công năng chủ trị:

– Thanh nhiệt giải thử, dùng đối với mùa hạ bị ngoại cảm phong thử: cảm nắng biểu hiện sốt cao, không có mồ hôi (vô hãn) thường phối hợp với kim ngân, liên kiều, hậu phác.

– Trừ hư nhiệt và nhiệt phục bên trong, gây chứng cốt chung (nóng, đau âm ỉ trong xương), ra mồ hôi trộm (đạo hãn), phối hợp với địa cốt bì, miết giáp; sốt lâu ngày không hạ, bệnh hàn nhiệt vãng lai (lúc sốt, lúc rét) thực chất là bệnh sốt rét, phối hợp với sài hồ. Điều này phù hợp với hiện nay chúng ta dùng một hoạt chất lấy từ thanh hao là artemisinin để phòng và chữa sốt rét có hiệu quả.

– Thanh thấp nhiệt can đởm: thường dùng trong bệnh sốt rét, thương hàn phối hợp với hoàng cầm, hoạt thạch, cam thảo, phục linh.

– Tiêu thực, kiện vị, kích thích tiêu hóa; dùng khi ăn uống kém.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người ra nhiều mồ hôi vào mùa hè, không nên dùng. Cần phân biệt với cây thanh hao Baeokeo frutescens L. thuộc họ Myrtaceae.

Chú ý:

– Tác dụng kháng khuẩn: thanh cao có tác dung ức chế đối với một số nấm ngoài da, ức chế ký sinh trùng sốt rét. Điều đó giải thích công dụng trị sốt rét của vị thuốc.

– Hiện nay cây thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L.) được trồng làm nguyên liệu chiết artemesinin dùng để chữa sốt rét.

Cát Căn

CÁT CĂN dùng rễ đã qua chế biến theo phương pháp YHCT của cây Sắn dây Pueraria
thomsonii Benth. Họ Đậu Fabaceae.

Tính vị: vị ngọt, cay, tính bình. Cát căn mọc hoang tính ấm.

Quy kinh: vào 2 kinh tỳ và vị

Công năng chủ trị:

– Làm ra mồ hôi, hạ nhiệt: dùng với bệnh ngoại cảm phong nhiệt nhiệt sốt cao, phiền khát, đau đầu; đặc biệt đau vùng đầu, vùng chẩm và vùng gáy, hoặc cứng gáy, cổ gáy đau, khó quay cổ.

– Giải độc, làn cho sởi mọc hoàn toàn; dùng bài cát căn thang: cát căn 12g, ngưu bàng tử 12g, kinh giới 8g, thuyền thoái 4g, liên kiều 16g, uất kim 8g, cam thảo 4g, cát cánh 8g.

– Sinh tân dịch chỉ khát: dùng khi bị sốt mà bụng cồn cào, miệng háo khát người khô háo, đại tiện bí kết, đau vùng thượng vị. Trường hợp này dùng củ sắn dây tươi thì tốt hơn, lượng 40g, cỏ nhọ nồi 40g, trúc diệp 20g. Ngoài ra còn được dùng chữa bệnh tiêu khát (bệnh đái đường, đái tháo), khi dùng có thể phối hợp với sinh địa, hoài sơn, mạch môn.

– Thanh tàng chỉ lỵ: dùng trong các bệnh đi ngoài lỏng lỵ lâu ngày. Đối với lỵ lâu ngày nên dùng cát căn mọc hoang lâu ngày thì tốt, khi dùng sao qua để giảm tính phát hãn của vị thuốc.

– Thanh tâm nhiệt: dùng trong các chứng niêm mạc miệng môi lưỡi lở loét, sinh mụn nhọt, các chứng bí tiểu tiện, tiểu dắt, buốt, nước tiểu đục. Trường hợp này dùng bột của sắn dây với nước cốt của rau má hoặc cỏ nhọ nồi thì tốt.

– Hạ huyết áp: dùng trong các bệnh cao huyết áp.

Liều dùng: 4-24g

Kiêng kỵ: những người tiêu thịnh, hạ tiêu hư, âm hư, hỏa vượng, không nên dùng.

Chú ý:

– Hoa cát căn vị ngọt, tính bình, dùng để giải độc rượu. Lá có tác dụng chữa rắn cắn.

– Tác dụng dược lý: các isflavonoid chiết từ cát căn daidzein daidzin có tác dụng làm giãn sự co thắt các động mạch đáy mắt. Flavonoid toàn phần của nó làm tăng lưu lượng máu não. Điều đó chứng minh tác dụng giảm đau đầu của cát căn. Đối với động mạch vành, flavonoid có tác dụng tăng lưu lượng máu, giảm trỏ lực huyết quản.

Trên lâm sàng ứng dụng kết quả này của dược lý để chữa các bệnh đau thắt mạch vành tim cho kết quả. Hạ nhiệt đối với thỏ đã gây sốt thực nghiệm. Ngoài ra daidzein có tác dụng giải các cơn co quắp do acetylcolin gây ra. Ngoài ra Cát căn còn có tác dụng lợi tiểu, an thần.

Cúc Hoa

CÚC HOA dùng hoa của cây Cúc Chrysanthemum indicum L. Họ Cúc Asteraceae.
Có thể dùng cả hai loại hoa trắng và hoa vàng. Thông thường dùng loại cúc hoa vàng.

Tính vị: vị ngọt, đắng, tính bình

Quy kinh: vào 8 kinh phế, can, tâm, đởm, vị, tỳ, đại tràng, tiểu tràng,.

Công năng chủ trị:

– Giải cảm nhiệt, dùng đối với bệnh sốt do cảm mạo, biểu hiện đau đầu, đau mắt đỏ, có thể phối hợp với tang diệp, câu đằng.

– Thanh can sáng mắt: dùng khi can khí bị phong nhiệt, mắt sưng đau, đỏ, ũng thũng, chóng mặt, có thể dùng bài lục vi thêm cúc hoa, câu kỷ tử hoặc dùng cúc hoa ngâm với rượu. Có trong thành phần của phương kỷ cúc địa hoàng hoàn.

– Bình can hạ huyết áp, phối hợp với các thuốc khác dưới dạng hãm, ví dụ hoa hòe, hoa kim ngân, đinh lăng (chè hạ áp).

– Giải độc, chữa mụn nhọt, đinh độc, dùng cúc hoa vàng 16g, cam thảo 20g, sắc uống. Ngoài ra còn dùng để chữa các bệnh da tê bì, chứng mất cảm giác của da, cơ.

Liều dùng: 4-24g

Kiêng kỵ: những người tỳ vị hư hàn, hoặc đau đầu do phong hàn, không nên dùng.

Chú ý:

– Sau khi thu hái, cúc hoa cần được chế biến bằng cách sấy với diêm sinh để giữ cho cánh hoa không bị rụng, tiện lợi cho quá trình bảo quản.

– Tác dụng dược lý: với liều cao, cúc hoa có tác dụng hạ nhiệt, hạ huyết áp. Điều đó phần nào chứng minh tính chất giải cảm hạ áp của vị thuốc.

– Tác dụng kháng khuẩn: cúc hoa ức chế nhiều loại vi khuẩn như tụ cầu, liên cầu khuẩn, lỵ trực khuẩn, trực khuẩn đại tràng, bạch cầu và virus cúm.

Tang Diệp

TANG DIỆP là lá cây Dâu: Morus alba L. Họ Dâu tằm Moraceae.

Tính vị: vị ngọt, đắng, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh can, phế, thận

Công năng chủ trị:

– Giải cảm nhiệt, dùng đối với bệnh cảm nhiệt, biểu hiện miệng khát, sốt cao, đau đầu, ho khan, có thể dùng với các vị khác; trong bài tang cúc ẩm như: tang diệp 2g, liên kiều 12g, bạc hà 4g, cam thảo 4g, hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, lô căn 20g sắc uống.

– Cố biểu, liễm hãn: dùng trong các trường hợp nhiều mồ hôi, mồ hôi trộm, ra mồ hôi ở lòng bàn tay, có thể dùng tang diệp 30g, mẫu lệ (nung) 15g.

– Thanh can sáng mắt: dùng khi kinh can bị phong nhiệt, mắt đỏ sưng đau, viêm màng kết mạc, hoa mắt, chảy nhiều nước mắt, tang diệp 12g, cúc hoa 12g, thảo quyết minh 8g, trường hợp đau mắt đỏ, mắt xung huyết; dùng lá dâu bánh tẻ cùng với một số lá khác như lá tre, cúc hoa, bạc hà, nấu nước xông; hoặc dùng lá dâu giã nhỏ, vắt lấy dịch tẩm vào gạc, đắp lên mắt sẽ làm tan xung huyết.

– Làm hạ huyết áp: tang diệp, xung úy tử (hạt ích mẫu) mỗi thứ 20g, sắc uống. Có thể dùng tang chi (cành dâu) nấu nước ngâm chân 30-40 phút, trước khi đi ngủ.

– Làm hạ đường huyết, dùng trong bệnh tiêu khát (đái đường), phối hợp với sinh địa, tri mẫu, hoài sơn, cát căn.

Liều dùng: 6-12g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: tang diệp có tác dụng hạ đường huyết, hạ huyết áp trên động vật thí nghiệm.

– Tác dụng kháng khuẩn: tang diệp có tác dụng ứ chế trực khuẩn thương hàn, tụ cầu khuẩn.

– Khi dùng, lấy lá bánh tẻ, tước bỏ cuống và xơ gân. Lá non nấu canh với tôm chà cho trẻ ăn chữa mồ hôi trộm.

Thuyền Thoái

THUYỀN THOÁI (Xác ve sầu) là xác lột của con Ve sầu Cryptotympana pustulata Fabricius. Họ Ve sầu Cicadae.

Tính vị: Vị mặn, tính hàn

Quy kinh: vào hai kinh phế và can

Công năng chủ trị:

– Tán phong nhiệt, giải biểu, dùng trong trường hợp phong nhiệt phạm phế dẫn tới ho, khàn tiếng, có thể phối hợp với bạc hà, cát cánh, ngưu bàng.

– Giải độc, làm cho sởi đậu mọc nhanh, thuyền toái 2-4g, uống dưới dạng thuốc bột.

– Trấn kinh an thần: dùng đối với trẻ em sốt cao, co giật hoặc các bệnh truyền nhiễm dẫn đến co giật, uốn ván, phối hợp với câu đằng, ngô công, toàn yết, bạch cương tằm; hoặc dùng phương sau thuyền thoái 6g, toàn yết 32g, thiên nam tinh 12g, cam thảo 4g, uống dưới dạng bột. Ngoài ra còn dùng với trẻ em sơ sinh hay giật mình và khóc đêm (khóc dạ đề).

– Chống viêm: dùng trong viêm thận mãn tính thuốc có tác dụng làm giảm albumin niệu; khi dùng cần phối hợp với tô diệp, ích mẫu.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người có chứng hư và không có phong nhiệt, không dùng. Phụ nữ có thai phải dùng thận trọng.

Chú ý: khi dùng bỏ chân, đầu sao vàng.

Bạc Hà

BẠC HÀ dùng bộ phận trên mặt đất của cây Bạc hà Việt Nam Mentha arvensis L. Họ
Hoa môi Lamiaceae.

Tính vị: vị cay, tinh mát

Quy kinh: vào hai kinh phế và can

Công năng chủ trị:

– Giải cảm nhiệt, làm ra mồ hôi, dùng với cảm mạo phong nhiệt, biểu hiện sốt cao, đau đầu ít hoặc không có mồ hôi, có thể dùng để xông; hoặc dùng bạc hà 20g, thạch cao sống 40g sắc uống. Dùng trong trường hợp sốt cao, miệng khát, tâm phiền buồn bực hoặc dùng riêng bạc hà 8g sắc uống. Ngoài ra còn dùng phòng bệnh cảm cúm, bạc hà, tô diệp, hoắc hương, lượng bằng nhau sắc uống liền trong 3 ngày.

– Trừ phong giảm đau, dùng đối với bệnh đau đầu, đau mắt đỏ do phong nhiệt, họng đỏ sưng đau; phối hợp với cúc hoa, vỏ núc nác. – Chỉ ho, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác như huyền sâm, mạch môn.

– Kiện vị, chỉ tả, tăng tiết mật, kích thích tiêu hóa; dùng trong các bệnh ăn uống không tiêu, nôn lợm, ợ chua, đau bụng, đi tả, có thể dùng 20g lá sắc uống trong ngày.

– Giải độc, làm cho sởi mộc, phối với ngưu bàng, thuyền toái sắc uống. Ngoài ra còn dùng lá giã nát băng vào chỗ bỏng hoặc mụn nhọt để chống nhiễm khuẩn và lên da non. Nước sắc bạc hà, hoặc nước no sau khi cất tinh dầu, có thể dùng súc miệng sát khuẩn răng miệng, lợi mật.

Liều dùng: từ 2-12g

Kiêng kỵ: những người khí hư huyết táo, can dương thịnh biểu hư, mồ hôi nhiều không nên dùng, Không nên dùng bạc hà xông hoặc cho trẻ con uống.

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: với liều nhỏ, bạc hà có tác dụng, hưng phấn, kích thích trung khu thần kinh, làm mạch máu giãn nở, thúc đẩy mồ hôi bài tiết và hạ nhiệt. Liều lớn se kích thích tủy sống. Làm tê liệt phản xạ vận động. Bạc hà còn tác dụng trên đoạn rễ thần kinh bị tê đau và tác dụng gây tê cục bộ.

– Tác dụng kháng khuẩn: bạc hà có phổ kháng khuẩn rộng, ức chế nhiều loại vi khuẩn như: Staphilo. aureus; Sal.typhy; Sh. flexneri; Sh. sonnei; Sh. shiga; B. subtilis; Strepto. D. pneumonie; H. perrtussis. Theo Nguyễn Đức Minh, tinh dầu bạc hà có tác dụng diệt amip.

Hồ Tuy

RAU MÙI (Hồ tuy) dùng toàn cây, cả quả của cây mùi Coriandrum sativum L. Họ Hoa tán Apiaceae.

Tính vị: vị cay, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh phế và vị

Công năng chủ trị:

– Làm cho sởi mọc, dùng khi trẻ em mắc bệnh sởi mà khó mọc ra; có thể dùng cây mùi tươi 50g cho vào 500ml nước lã đun tới sôi giữ 5 phút, đợi lúc nước ấm lấy vải thấm nước đó lau trên tay và chân, sau đó lau toàn thân (tránh gió khi lau). Hoặc dùng 8-12g quả mùi sắc uống. Cũng có thể dùng 4g quả mùi, giã nhỏ cho vào ít nước nóng hoặc ít rượu 30oC khuấy đều. Dùng vải thấm dịch này và tiến hành thao tác như trên. Có thể dùng chữa bệnh sởi bằng cách sắc nước cây mùi tươi uống hàng ngày, dùng từ 7-10 ngày.

– Kiện vị, tiêu thực: dùng trong trường hợp cảm mạo, phong hàn rồi dẫn đến tiêu hóa không tốt: đầy bụng, đau bụng. Trường hợp thực tích dẫn đến ợ hơi, đau dạ dày, dùng hạt mùi và hạt cải củ, bằng lượng nghiền mịn, uống 3-4g trong ngày, ngoài ra còn dùng quả mùi 8g sao thơm tán nhỏ uống để chữa bệnh ỉa chảy hoặc lấy hạt đốt xông khói chữa thoát giang.

– Lợi tiểu tiện: rau mùi 40g, rễ vông vang 40g, nước 150ml, sắc còn 50ml, thêm 40g hoạt thạch, quấy đều uống 3 lần trong ngày, trong trường hợp tiểu tiện bị tắc.

– Giải độc sát khuẩn: Hạt mùi tán nhỏ, chế thành dạng thuốc mỡ, trị bệnh viêm da có mủ, làm hết mùi hôi thối và nhanh lên da non. Hạt mùi còn được dùng làm thuốc chữa rắn cắn.

Liều dùng: 4-8g

Kiêng kỵ: khi sởi đã mọc ra ngoài, hoặc dạ dày bị loét thì không nên dùng mùi.

Hương Nhu

HƯƠNG NHU TÍA dùng lá, hoa của cây Hương nhu tía Ocimum Sanctum L. và cây Hương nhu trắng Ocimum gratissmum L. Họ Hoa môi Lamiaceae.

Tính vị: vị cay, tính ấm

Quy kinh: vào kinh phế và vị

Công năng chủ trị

– Giải cảm, kể cả cảm hàn và cảm nhiệt, sốt cao hoặc có rét, đầu và mình đau nhức, nặng nề, mồ hôi không ra. Có thể dùng lá hoặc cành mang hoa hãm riêng hoặc hãm với lá chè xanh mà uống. Hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong bài hương nhu ẩm: hương nhu, hậu phác mỗi thứ 12g, về mùa hạ đau đầu, có thể dùng cành có hoa của hương nhu băng vào vùng trán, vùng đỉnh hoặc vùng thái dương.

– Hóa thấp kiện vị: khi ăn phải các thức ăn sống lạnh (thường vào mùa hè), dẫn đến bụng đau, với các triệu chứng thượng thổ, hạ tả, có thể sắc nước hương nhu với tô diệp và vỏ cây vối mà uống.

– Lợi niệu, tiêu phù thũng, đặc biệt là phù ở mặt, dùng phương sau, hương nhu 12g, bạch mao căn 40g, ích mẫu 10g.

– Sát khuẩn: dùng nước sắc của hương nhu để rửa vết thương hoặc mụn nhọt, lở loét, ngứa. Tinh dầu hương nhu có tác dụng sát khuẩn răng miệng.

– Làm lên tóc: Lá tươi lấy dịch cốt bôi vào chỗ sẹo tóc sẽ mọc nhanh, trường hợp rụng tóc thì nấu nước lá và hoa để gội đầu.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người biểu hư, mồ hôi nhiều không nên dùng

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: khi bài tiết qua can thận, tinh dầu của hương nhu có tác dụng làm dãn mạch máu ở thận, sung huyết, làm áp lực lọc ở thận tăng lên, gây tác dụng lợi niệu. Điều đó chứng minh tác dụng lợi niệu của thuốc.

– Tác dụng kháng khuẩn: hương nhu có tác dụng ức chế một số vi khuẩn B. subtilis, Staphylo. aureus. Tinh dầu có tác dụng diệt lỵ amip (Nguyễn Đức Minh).

Thông Bạch

HÀNH (Thông bạch) dùng toàn thân hành Allium fistulosum L. Họ Hành Liliaceae.

Tính vị: vị cay, tính ấm

Quy kinh: quy 2 kinh vị và phế

Công năng chủ trị

– Làm ra mồ hôi, dùng trong bệnh cảm hàn, sốt mà không ra mồ hôi. Dùng riêng ăn với cháo nóng hoặc phối hợp với đậu xị, mỗi thứ 12g.

– Hoạt huyết thông dương khí: dùng trong các trường hợp huyết ứ trệ; khi cảm quá nặng dẫn đến cấm khẩu.

– Kiện vị giảm đau, dùng trong trường hợp bụng đầy trướng đau, đại tiện lỏng, thường phối hợp với can khương.

– Lợi tiểu tiện: trường hợp bí tiểu tiện, sao hành củ với cám nóng, giã giập rồi đắp ở vùng bàng quang; hoặc đối với người bệnh sau khi mổ mà bí tiểu tiện, dùng hành giã nát hòa với giấm thanh đắp băng vùng rốn, cũng có thể sắc lấy nước mà uống.

– Cố thận, chữa di tinh: dùng hành nấu với cháo, ăn nhiều lần trong ngày.

– Sát khuẩn kí sinh trùng:

+ Trường hợp giun chui ống mật, lấy dịch ép của hành củ, trộn đều với dầu vừng hay dầu lạc, mỗi thứ 40g hoặc uống dầu trước khi uống dịch ép hành.

+ Hành giã nát trộn với mật ong thành dạng hồ nhão đắp ngoài trị bệnh viêm da có mủ (chỉ dùng ngoài)

+ Khi bị dị vật đâm vào da thịt rồi bị gãy ở đó nên nướng một củ hành cho chín, giã nát cùng với chút muối rồi băng vào chỗ dị vật. Hôm sau dị vật được hút ra.

Liều dùng: 4-40g

Kiêng kị: những người biểu hư, mồ hôi nhiều không nên dùng, không uống lẫn hai vị hành và mật ong (tương kỵ)

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: hành kích thích sự phân tiết dịch men tiêu hóa. Điều đó chứng minh cho sự tác dụng kiện vị của hành.

– Tác dụng kháng khuẩn: hành có tác dụng ức chế một số vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, nhiều loại nấm ngoài da, ngoài ra còn có tác dụng với khuẩn Trichomonas ở âm đạo.