Ý nghĩa tên gọi Huyệt Phù Bạch đó là: Phù chỉ vùng trên cao; Bạch = sáng rõ. Huyệt nằm ở vị trí trên cao nhìn thấy rõ, vì vậy gọi là Phù Bạch (Trung Y Cương Mục).
Xuất xứ
Thiên ‘Khí Huyệt Luận’ (Tố Vấn 58).
Đặc tính
Huyệt thứ 10 của kinh Đởm.
Huyệt hội với kinh Thái Dương và Thủ Thiếu Dương.
Vị trí huyệt phù bạch
Tại bờ trên chân vành tai, trong chân tóc 01 thốn. Hoặc lấy tỉ lệ 1/3 trên và 2/3 dưới của đoạn nối huyệt Thiên Xung (Đ.9) và Hoàn Cốt (Đ.12).
Giải phẫu
Dưới da là xương thái dương. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C2.
Chủ trị
Trị tai ù, điếc, răng đau, amygdale viêm.
Châm cứu
Châm dưới da 0,3 – 0,5 thốn. Cứu 1 – 3 tráng. Ôn cứu 3 – 5 phút.
Thiên Thích Yêu Thống ghi: Lưng đau không thể cúi ngửa, do mang nặng làm tổn thương vùng thắt lưng, ác huyết tụ lại đó, châm ở khoảng huyệt Phù Khích, cho ra máu (Tố Vấn 41, 20). “Không nằm được: chọn Phù Khích” (Giáp Ất Kinh).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Phù Đột đó là: Theo người xưa 4 ngang ngón tay gọi là 1 phù, tức là bằng 3 đồng thân thốn. Đột = nhô lên cao, chỉ đỉnh (củ) hầu. Huyệt ở ngang củ hầu 3 thốn, vì vậy gọi là Phù Đột (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Phò Đột, Thủy Đột, Thủy Huyệt.
Xuất xứ
Thiên ‘Bản Du’ (Linh Khu .2).
Đặc tính
Huyệt thứ 18 của kinh Đại Trường.
Một trong nhóm huyệt Thiên Dũ.
Huyệt đặc hiệu dùng trong trường hợp mất tiếng.
Vị trí huyệt phù đột
Trên cơ ức – đòn – chũm, trên đường ngang qua bờ trên sụn giáp trạng, ngang ra 3 thốn.
Giải phẫu
Dưới huyệt là cơ bám da cổ, bó ức và bó đòn của cơ ức – đòn – chũm, các cơ bậc thang, chỗ bám vào xương của cơ góc.
Thần kinh vận động cơ là dây thần kinh cơ da – cổ, nhánh ngoài của dây thần kinh sọ não số XI, các nhánh của đám rối thần kinh cổ sâu. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C3.
Tác dụng huyệt phù đột
Tuyên phế, lý khí, chỉ khái, định suyễn, tiêu thũng, chỉ thống.
1. Phối Thiên Đột (Nh.22) + Thiên Khê (Ty.18) trị họng khò khè, họng có cảm giác như vướng (Thiên Kim Phương).
2. Phối Hợp Cốc (Đtr.4) + Thiên Đột (Nh.22) trị mất tiếng, khàn tiếng (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Tham khảo:
Thiên Hàn Nhiệt Bệnh ghi: “Bị cảm 1 cách đột ngột, khí nghịch lên (làm cho cổ họng và lưỡi) bị cứng: châm huyệt Phù Đột và châm ra máu Thiệt Bản [Phong Phủ]” (Linh Khu 21, 16).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Phế Du đó là: Huyệt có tác dụng đưa kinh khí vào (du) tạng Phế, vì vậy gọi là Phế Du.
Xuất xứ
Thiên ‘Bối Du’ (Linh Khu 51).
Đặc tính
Huyệt thứ 13 của kinh Bàng Quang.
Huyệt Bối Du của kinh Phế.
Huyệt đặc biệt để tản khí Dương ở Phế.
Thuộc nhóm huyệt để tả khí Dương của Ngũ Tạng.
Vị trí huyệt phế du
Dưới gai đốt sống lưng 3, đo ngang ra 1,5 thốn, ngang huyệt Thân Trụ (Đc.12).
Giải phẫu
Dưới da là cơ thang, cơ trám, cơ răng cưa bé sau – trên, cơ gối cổ, cơ lưng dài, cơ cổ dài, cơ bán gai của đầu, cơ bán gai của cổ, cơ ngang sườn, phổi.
Thần kinh vận động cơ là nhánh dây thần kinh sọ não số XI, nhánh đám rối cổ sâu, nhánh của đám rối cánh tay, nhánh của dây thần kinh gian sườn, 3 nhánh của dây sống lưng 3. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D3.
Tác dụng huyệt phế du
Điều Phế, lý khí, thanh hư nhiệt, bổ hư lao, hòa vinh huyết.
Chủ trị
Trị lao phổi, phổi viêm, khí quản viêm, suyễn, mồ hôi tự ra, mồ hôi trộm.
Châm cứu huyệt phế du
Châm xiên về phía cột sống 0,3 – 0,5 thốn. Cứu 3 – 5 tráng. Ôn cứu 5–10 phút.
Phối hợp huyệt
1. Phối Bá Lao trị mồ hôi trộm do hư tổn (Giáp Ất Kinh).
2. Phối Thận Du (Bq.23) trị ho suyễn, hụt hơi (Thiên Kim Phương).
3. Phối Phong Môn (Bq.12) trị ho (Châm Cứu Tụ Anh).
4. Phối Hoàn Khiêu (Đ.30) + Trung Độc (Đ.32) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị chứng nuy, thấp nhiệt, đờm (Châm Cứu Tụ Anh).
5. Phối Thiên Đột (Nh.22) trị ho (Bách Chứng Phú).
6. Phối Đào Đạo (Đc.13) trị sốt (Bách Chứng Phú).
7. Phối Phong Long (Vi.40) trị ho (Ngọc Long Ca).
8. Phối Thiên Đột (Nh.22) trị ho, đại tả Phế khí (Đan Khê Tâm Pháp).
9. Phối Y Hy (Bq.45) trị Phế ung (áp xe phổi) (Thế Y Đắc Hiệu Phương).
10. Phối Cao Hoang (Bq.43) + Đào Đạo (Đc.13) + Thân Trụ (Đc.12) trị suy nhược do ngũ lao, thất thương (Càn Khôn Sinh Ý).
11. Phối Bá Lao + Liệt Khuyết (P.7) + Trung Quản (Nh.12) trị ho đờm có máu (Thần Cứu Kinh Luân).
12. Phối Đản Trung (Nh.17) + Thái Khê (Th.3) + Xích Trạch (P.5) trị ho nhiệt (Thần Cứu Kinh Luân).
13. Phối Phục Lưu (Th.7) + Y Hy (Bq.45) trị mồ hôi trộm (Thần Cứu Kinh Luân).
14. Phối Phong Môn (Bq.12) trị ho (Hành Châm Chỉ Yếu Ca).
15. Phối Cách Du (Bq.17) + Ngư Tế (P.10) + Thái Uyên (P.9) + Xích Trạch (P.5) trị ho ra máu (Trung Hoa Châm Cứu Học).
16. Phối Phong Môn (Bq.12) + Trung Phủ (P.1) + Thiên Song (Ttr.16) + Đàn Trung (Nh.17) + Xích Trạch (P.5) trị ho lao, ho, suyễn (Châm Cứu Học Giản Biên).
17. Phối Chi Câu (Ttu.6) + Đại Lăng (Tb.7) + Đản Trung (Nh.17) trị ho lao (Châm Cứu Học Thượng Hải).
18. Phối Nhũ Căn (Vi.18) + Thiên Đột (Nh.22) trị ho lâu không cầm được (Châm Cứu Học Thượng Hải).
19. Phối Phong Long (Vi.40) trị ho đờm (Châm Cứu Học Thượng Hải).
20. Phối Cao Hoang (Bq.43) + Đại Chùy (Đc.14) trị phế quản viêm mạn (Châm Cứu Học Thượng Hải).
21. Phối Cách Du (Bq.17) + Đào Đạo (Đc.13) trị đờm suyễn (Châm Cứu Học Thượng Hải).
22. Phối Kiên Tỉnh (Đ.21) + Kỳ Môn (C.14) trị ho (Châm Cứu Học Thượng Hải).
23. Phối Nghênh Hương (Đtr.20) trị mũi chảy nước (Châm Cứu Học Thượng Hải).
24. Phối Đản Trung (Nh.17) + Nội Quan (Tb.6) + Phế Nhiệt Huyệt + Trung Phủ (P.1) trị hen phế quản (Châm Cứu Học Thượng Hải).
25. Phối Chiên Trung (Nh.17) thấu Ngọc Đường (Nh.18) [hoặc Hoa Cái thấu Triền Cơ] + Đại Chùy (Đc.14) + Kết Hạch Huyệt + (thấu) Thiên Trụ (Bq.10) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Xích Trạch (P.5) trị lao phổi (Châm Cứu Học Thượng Hải).
26. Phối Hợp Cốc (Đtr.4) + Liệt Khuyết (P.7) trị ho do ngoại cảm (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).
Tham khảo
Thiên Ngũ Tà ghi: “Tà khí ở tại Phế làm cho da bị đau, hàn nhiệt, khí lên trên gây ra suyễn, ra mồ hôi, (khi) ho làm đau đến vùng vai và lưng, châm huyệt du nằm ở phía ngoài của vùng ngực giữa (Vân Môn – P.2 + Trung Phủ – P.1) và huyệt nằm ở cạnh của ngũ tạng du ở đốt xương thứ 3 (Phế Du Bq.13) + Phách Hộ (Bq.42), dùng tay đè vào chỗ nào thấy dễ chịu…” (Linh Khu .20, 1-2).
“Ho, nên châm huyệt Phế Du (Bq.13)” (Ngọc Long Ca). “Nếu là đờm dãi và ho, chữa trị cần phải cứu Phế Du (Bq.13)” (Thắng Ngọc Ca).
“Chữa đinh nhọt ở mặt và tay chân: cứu huyệt Phế Du (Bq.13), sau khi rút kim, dùng bầu giác 5 phút. Chứng nhẹ thì châm xuất huyết, chứng nặng thì ra nước vàng, chứng trạng liền giảm ngay” (Ngoại Khoa Lý Lệ).
“Phế Du và Trung Phủ có công dụng khác nhau. Hai huyệt là Mộ và Bối Du huyệt của Phế, trị bệnh về Phế, tuy nhiên, có điểm khác nhau: Phế Du: trị Phế khí bất túc, Phế không tuyên giáng được, đa số dùng theo biện chứng phối huyệt. Có thể bổ hoặc tả. Trung Phủ: trị Phế không tuyên giáng được, ngực kết ứ trệ, thường dùng theo cách lấy huyệt cục bộ để trị. Đa số dùng phép tả, ít khi dùng bổ (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
1. Phối Thiên Tỉnh (Ttu.10) trị gân co rút (Tư Sinh Kinh).
2. Phối Hành Gian (C.2) + Hoàn Khiêu (Đ.30) + Phong Thị (Đ.31) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Ủy Trung (Bq.40) + Yêu Du (Đc.2) trị lưng và đùi đau (Châm Cứu Học Giản Biên).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Phụ Phân đó là: Phụ = ngang; Phân = vận hành. Huyệt là nơi mà đường kinh (Bàng quang) theo huyệt Đại Trữ xuất ra, xuất ra nhưng không vận hành (Trung Y Cương Mục).
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 41 của kinh Bàng Quang.
Nhận một mạch phụ từ kinh Thủ Thái Dương đến.
Vị trí huyệt phụ phân
Dưới gai sống lưng 2, đo ra 3 thốn, cách ngang huyệt Phong Môn 1,5 thốn.
Giải phẫu
Dưới da là cơ thang, cơ nâng vai, cơ trám, cơ răng bé sau – trên, cơ chậu sườn – ngực, cơ gian sườn 2, bên trong là phổi.
Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số XI, nhánh của đám rối cổ sâu, nhánh của dây thần kinh chẩm lớn, nhánh của đám rối cánh tay, các nhánh của dây thần kinh gian sườn 2. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D2.
Tác dụng huyệt phụ phân
Tán phong, khứ hàn, cường cân, tráng cốt.
Chủ trị
Trị vai và cổ lưng đau nhức, cánh tay tê cứng, khuỷu tay tê mỏi.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Phục Lưu đó là: Mạch khí của kinh Thận khi đến huyệt Thái Khê thì đi thẳng lên rồi quay trở về phía sau mắt cá chân trong 2 thốn và lưu ở đấy, vì vậy gọi là Phục Lưu (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác huyệt phục lưu
Ngoại Du, Ngoại Mạng, Ngoại Mệnh, Phục Bạch, Xương Dương.
Xuất xứ
Thiên ‘Bản Du’ (Linh Khu 2).
Đặc tính
Huyệt thứ 7 của kinh Thận.
Huyệt Kinh, thuộc hành Kim.
Huyệt Bổ của kinh Thận.
Vị trí huyệt phục lưu
Giữa mắt cá chân trong và gân gót (huyệt Thái Khê (Th.3) đo thẳng lên 2 thốn, trong khe của mặt trước gân gót chân và cơ gấp dài riêng ngón cái.
Giải phẫu
Dưới da là khe giữa bờ trên gót chân, mặt sau cơ gấp dài ngón chân cái, mặt sau đầu dưới xương chầy.
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh chầy sau. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L4.
1. Phối Phong Long (Vi.40) trị tay chân phù (Giáp Ất Kinh).
2. Phối Đại Đô (Ty.2) + Phong Long (Vi.40) trị tay chân sưng (Thiên Kim Phương).
3. Phối Nhiên Cốc (Th.2) + Thái Xung (C.3) + Trung Phong (C.5) trị mồ hôi trộm (Thiên Kim Phương).
4. Phối Thần Khuyết (Nh.8) trị trúng thủy, khí trướng đầy (Tư Sinh Kinh).
5. Phối Lao Cung (Tb.8) trị hay tức giận (Tư Sinh Kinh).
6. Phối Bộc Tham (Bq.61) + Hoàn Cốt (Đ.12) + Phi Dương (Bq.58) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Xung Dương (Vi.42) trị chân teo, chân tê rớt giầy dép không biết (Tư Sinh Kinh).
7. Phối Hội Dương (Bq.35) + Thái Xung (C.3) trị tiêu ra máu (Tư Sinh Kinh).
8. Phối Thái Xung (C.3) trị sữa khó ra (Châm Cứu Tụ Anh).
9. Tả Phục Lưu + Bá Lao + bổ Hợp Cốc (Đtr.4) + tả Nội Đình (Vi.44) trị thương hàn không có mồ hôi (Châm Cứu Đại Thành).
10. Phối Hợp Cốc (Đtr.4) + Khúc Trì (Đtr.11) + Nhân Trung (Đc.26) trị thương hàn gây ra co cứng, bất tỉnh (Châm Cứu Đại Thành).
11. Phối Lệ Đoài (Vi.45) + Thân Mạch (Bq.62) trị chân lạnh (Châm Cứu Đại Thành).
12. Phối Hội Dương (Bq.35) + Thúc Cốt (Bq.65) trị tích tụ ở ruột (Châm Cứu Đại Thành).
13. Phối Cách Du (Bq.17) + Gian Sử (Tb.5) + Hành Gian (C.3) + Thận Du (Bq.23) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tỳ Du (Bq.20) trị chứng huyết cổ (Loại Kinh Đồ Dực).
14. Phối Liệt Khuyết (P.7) + Phong Long (Vi.40) trị tay chân phù (Thần ứng Kinh).
15. Phối Hành Gian (C.2) + Tam Âm Giao (Ty.6) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị chân không đi được (Châm Cứu Phùng Nguyên).
16. Phối Ẩn Bạch (Ty.1) + Hạ Liêu (Bq.34) + Hội Dương (Bq.35) + Lao Cung (Tb.8) + Thái Bạch (Ty.3) + Thái Xung (C.3) + Thừa Sơn (Bq.57) + Trường Cường (Đc.1) trị đại tiện ra máu (Thần Cứu Kinh Luân).
17. Phối Cao Hoang (Bq.43) + Đại Chùy (Đc.14) trị mồ hôi tự ra [tự hãn] (Thần Cứu Kinh Luân).
18. Phối Phế Du (Bq.23) + Y Hy (Bq.45) trị mồ hôi trộm [đạo hãn] (Thần Cứu Kinh Luân).
19. Phối Ế Minh Thận Du (Bq.23) + Thủy Phân (Nh.9) + Trúc Tân (Th.9) + Túc Tam Lý(Vi.36) trị gan bị xơ cứng (Châm Cứu Học Thượng Hải).
20. Phối Ế Phong (Ttu.17) + Thận Du (Bq.23) + Túc Tam Lý (Vi.36) trị cổ trướng (Châm Cứu Học Thượng Hải).
21. Phối Liệt Khuyết (P.7) + Quan Nguyên (Nh.4) + Thận Du (Bq.23) + Thiên Xu (Vi.25) + Thủy Phân (Nh.9) + Túc Tam Lý (Vi.36) + Tỳ Du (Bq.20) trị phù thũng (Phù thũng Bệnh Trung Y Giản Dị Phương Tuyển).
Tham khảo
Thiên Tạp Bệnh ghi: “Cổ họng khô, trong miệng nóng như có keo, thủ kinh túc Thiếu âm [huyệt Bổ của kinh Túc Thiếu Âm – Phục Lưu] (Linh Khu 26, 5).
Thiên Khẩu Vấn ghi: “…Nếu trong Vị bị nhiệt thì trùng bị động, trùng động thì Vị bị hoãn, Vị bị hoãn thì huyệt Liêm Tuyền khai, vì thế nước miếng bị chảy ra, châm bổ kinh túc Thiếu Âm [Phục Lưu] (Linh Khu 28, 26).
“Nhiều mồ hôi: Hợp Cốc nên bổ trước, tiếp đến tả Phục Lưu thì mồ hôi khô” (Châm Cứu Tụ Anh).
“Thận hư: châm bổ huyệt Phục Lưu” (Châm Cứu Đại Thành). “… Tự hãn phát hoàng: cậy nhờ vào Phục Lưu” (Trửu Hậu Phương).
“Không mồ hôi, càng nên bổ huyệt Hợp Cốc, tả huyệt Phục Lưu, đều châm. Còn nếu mồ hôi chảy nhiều không ngừng, Hợp Cốc thu bổ hiệu quả như thần” (Lan Giang Phú).
“Huyệt Hợp Cốc phối với huyệt Phục Lưu (Th.7) vừa có tác dụng cầm mồ hôi, lại vừa có tác dụng làm cho ra mồ hôi, điều này sách vở đã nói rõ, không ai không biết. Nhưng hỏi vì sao nó cầm được mồ hôi hoặc ra mồ hôi thì không mấy ai biết.
Bổ Phục Lưu sở dĩ cầm được mồ hôi vì Phục Lưu thuộc kinh Thận, có tác dụng ôn được phần dương trong Thận để làm cho khí của Bàng Quang bốc lên trên và chuyển ra khắp cơ thể, làm cho phần vệ bên ngoài được vững.
Châm tả huyệt Hợp Cốc để thanh nhiệt của phần khí, nhiệt giải rồi thì mồ hôi tự cầm vậy. Bổ Hợp Cốc là để làm cho ra mồ hôi, vì Hợp Cốc thuộc dương, tính nhẹ, thanh, hay chạy ra phần Biểu, vì thế nên mới phát biểu, đuổi tà độc cùng với mồ hôi ra ngoài. Nếu tả thêm Phục Lưu là để cho vệ dương ở ngoài trở nên thưa hở, thành ra tác dụng khai bì mao vậy.
Trong trường hợp vì dương hư mà mồ hôi tự ra hoặc vì âm hư mà ra mồ hôi trộm, dù khác với ngoại tà nhưng dùng Hợp Cốc + Phục Lưu cũng có thể cầm lại được, vì Phục Lưu không phải chỉ làm ấm các phần dương trong cơ thể mà cũng bổ được phần âm trong Thận nữa.
Nói rộng ra thì đối với chứng hàn ẩm, suyễn hoặc là phù thũng… trước hết phải tìm cho rõ lý do, rồi nếu dùng Phục Lưu để chấn dương, hành thủy, dùng Hợp Cốc để lợi khí, giáng nghịch, công hiệu thường biết trước” (Phối Huyệt Khái Luận Giảng Nghĩa).
“Phối tả Xích Trạch (P.5) + Nội Đình có tác dụng giống như bài Thanh Táo Cứu Phế Thang trong sách Y Môn Pháp Luật (Du Huyệt Phối Ngũ).
“Phối tả Nội Đình (Vi.44) có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt. Giống như bài Ngọc Nữ Tiễn trong sách Cảnh Nhạc Toàn Thư (Du Huyệt Phối Ngũ).
“Châm bổ Phục Lưu (Th.7) + tả huyệt Phong Trì + Thái Xung (C.3) hoặc Hành Gian (C.2) có tác dụng bình Can, tức phong, tư âm, tiềm dương giống như bài Trấn Can Tức Phong Thang của sách Trung Trung Tham Tây Lục (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Huyệt Phục Lưu, Thái Khê, Thận Du có công dụng khác nhau. Cả 3 huyệt đều có tác dụng bổ Thận nhưng Phục Lưu thiên về tư Thận âm. Thái Khê thiên về bổ Thận khí và tư Thận âm. Thận Du thiên về bổ Thận khí” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Phối bổ Thận Du (Bq.23) + Quan Nguyên (Nh.4) có tác dụng bổ Thận Dương. Giống như bài Kim Qũy Thận Khí Hoàn trong sách Kim Quỹ Yếu Lược. Phàm Thận dương bất túc có thể sử dụng các huyệt này (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Phối bổ Quan Nguyên (Nh.4) + Thận Du (Bq.23) + tả Thông Lý (Tm.5) có tác dụng giống bài Địa Hoàng Ẩm Tử của Lưu Hà Gian” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Phối bổ Tam Âm Giao (Ty.6) + tả Thái Xung (C.3) có tác dụng giống bài Đại Định Phong Châu trong sách Ôn Bệnh Điều Biện (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
“Phối tả Thái Xung (C.3) hoặc Hành Gian (C.2) + Khâu Khư (Đ.40) hoặc phối dùng phương pháp Thấu Thiên Lương. Có tác dụng giống bài Linh Dương Câu Đằng Thang trong sách Thông Tục Thương Hàn Luận. (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Phục Thố đó là: Huyệt ở đùi, có hình dạng giống như con thỏ (thố) đang nằm phục ở đó, vì vậy gọi là Phục Thố (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Ngoại Câu, Ngoại Khâu, Phục Thỏ.
Xuất xứ
Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu .10).
Đặc tính
Huyệt thứ 32 của kinh Vị.
Vị trí huyệt phục thố
Ở điểm cách góc trên phía ngoài xương bánh chè 6 thốn, bờ ngoài cơ thẳng trước, bờ trong cơ rộng ngoài. Hoặc bàn tay úp lên đầu gối, các ngón tay khép lại, để ngay giữa lằn cổ tay thứ nhất lên trên giữa đầu gối, đầu ngón tay giữa áp lên da chân ở đầu, nơi đó là huyệt.
Giải phẫu
Dưới da là bờ ngoài cơ thẳng trước, bờ trong cơ rộng ngoài, cơ rộng giữa, xương đùi.
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh đùi. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L3.
Chủ trị
Trị chi dưới đau và liệt, nửa người liệt, khớp gối viêm.