Ý nghĩa tên gọi Huyệt Nhân Nghênh đó là: Ngày xưa, trong Mạch Học, người xưa chia ra tam bộ, cửu hậu, phần trên của tam bộ là Nhân Nghênh, huyệt ở vùng Nhân Nghênh mạch, vì vậy gọi là Nhân Nghênh (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Ngũ Hội, Nhân Nghinh, Thiên Ngũ Hội.
Xuất xứ
Thiên ‘Bản Du’ (Linh Khu 2).
Đặc tính
Huyệt thứ 9 của kinh Vị.
Một trong nhóm huyệt Thiên Dũ (Các huyệt khác là Phù Đột (Đtr 18), Thiên Trụ (Bq 10), Thiên Dũ (Ttu 16), Thiên Phủ – P.3).
Huyệt giao hội với kinh Túc Thiếu Dương.
Huyệt dùng để theo dõi tình trạng khí Dương.
Vị trí huyệt nhân nghênh
Nơi gặp nhau của bờ trước cơ ức – đòn chũm và đường ngang qua chỗ lồi nhất của yết hầu, sờ ở cổ có động mạch cảnh đập.
Giải phẫu
Dưới da là bờ trước cơ ức đòn chũm, bó mạch thần kinh cảnh, lớp sâu là cơ bậc thang, cơ cổ dài và cơ góc.
Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số XI và XII, các nhánh của đám rối thần kinh cổ. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C3.
1. Phối Hầu Trung [Liêm Tuyền -Nh.23)] + Thiên Đột (Nh 22) trị ngực và bụng đầy trướng (Linh Khu 59, 7).
2. Phối Hạ (Túc) Tam Lý (Vi 36) + Nội Quan (Tb 6) + Quan Xung (Ttu 1) + Tam Âm Giao (Ty 6) trị hoắc loạn, đầu đau, ngực đau (Châm Cứu Tập Thành).
3. Châm Nhân Nghênh thấu Thiên Đột (Nh 22) + Hợp Cốc (Đtr 4) + Nội Quan (Tb 6) + Tam Âm Giao (Ty 6) + Thái Khê (Th 3) + Trạch Tiền + Túc Tam Lý (Vi 36) trị bướu cổ (Châm Cứu Học Thượng Hải).
4. Phối Khúc Trì (Đtr 11) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị huyết áp cao (Châm Cứu Học Thượng Hải).
5. Phối Nhân Trung (Nh 26) + Nội Quan (Tb 6) + Thái Xung (C 3) + Tố Liêu (Đc 25) trị huyết áp thấp (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Tham khảo
Thiên Hàn Nhiệt Bệnh ghi:“Dương tà nghịch ở dương kinh làm cho đầu đau, ngực tức, khó thở, châm huyệt Nhân Nghênh” (Linh Khu 21, 15).
Thiên Tạp Bệnh ghi:“Hàm đau, châm kinh túc Dương Minh, ngay chỗ xương gãy quai hàm, nơi có động mạch quay quanh (huyệt Giáp Xa), châm xuất huyết xong là khỏi ngay. Nếu không khỏi, nên châm cạn huyệt Nhân Nghênh của bản kinh, khỏi ngay” (Linh Khu 26, 27).
“Châm Nhân Nghênh có thể làm hạ huyết áp” (Tề Tường An, Trung Quốc).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Nhân Trung đó là: Theo các sách xưa, môi trên được gọi là Nhân trung (Giáp Ất Kinh), Huyệt nằm ở vùng rãnh mũi – môi nên gọi là Nhân Trung hoặc Thủy Câu.
Tên gọi khác
Quỷ Cung, Quỷ Khách Sảnh, Quỷ Thị, Thủy Câu.
Xuất xứ
Tư Sinh Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 26 của mạch Đốc.
Hội của mạch Đốc với các kinh Dương Minh (Vị và Đại trường)
Nơi giao chéo của 2 đường kinh Đại Trường.
1 trong Thập Tam Qủy Huyệt với tên gọi là Quỷ Cung.
Vị trí huyệt nhân trung
Tại điểm nối 1/3 trên và 2/3 dưới của rãnh Nhân trung, giữa đáy rãnh.
Giải phẫu
Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Dưới da là cơ vòng môi trên. Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số VII.
Tác dụng huyệt nhân trung
Khai khiếu, thanh nhiệt, thanh định thần chí, khu phong tà, tiêu nội nhiệt, lợi vùng lưng và cột sống, điều hòa nghịch khí của Âm Dương.
Chủ trị
Trị miệng méo, môi trên co giật, cảm giác như kiến bò ở môi trên, lưng và thắt lưng đau cứng, cấp cứu ngất, hôn mê, động kinh, điên cuồng, trụy tim mạch.
Châm cứu huyệt nhân trung
Châm thẳng 0,2 – 0,3 thốn hoặc châm xiên mũi kim hướng lên trên sâu 0,5 – 1 thốn.
Khi điều trị chứng chảy nước miếng thì trước hết châm mũi kim hướng lên trên xong rút kim ra đến dưới da, rồi châm qua bên trái bên phải, gọi là Tam Thấu Pháp.
2. Phối cứu Âm Giao (Nh 7) + Thủy Phân (Nh 9) trị mũi chảy máu (Tư Sinh Kinh).
3. Phối ủy Trung (Bq 40) trị ngang lưng đau như gẫy, thần kinh tọa đau (Ngọc Long Kinh).
4. Phối Tiền Đỉnh (Đc 21) trị mặt sưng phù (Châm Cứu Tụ Anh).
5. Phối Hợp Cốc (Đtr 4) + Túc Lâm Khấp (Đ 41) trị bất tỉnh nhân sự (Châm Cứu Đại Thành).
6. Phối Khí Hải (Nh 6) + Trung Quản (Nh 12) trị trúng phong cấm khẩu, bất tỉnh (Châm Cứu Đại Thành).
7. Phối Ủy Trung (Bq 40) + Xích Trạch (P.5) trị té ngã bị tổn thương, lưng và sườn đau (Châm Cứu Đại Thành).
8. Phối Chi Câu (Ttu 6) + Côn Lôn (Bq 60) + Dương Lăng Tuyền (Đ 34) + Thúc Cốt (Bq 64) + Ủy Trung (Bq 40) + Xích Trạch (P.5) trị lưng đau do chấn thương (Châm Cứu Đại Thành).
9. Phối Phong Phủ (Đc 16) + Thượng Tinh (Đc 23) trị mũi chảy nước (Châm Cứu Đại Thành).
10. Phối Hợp Cốc (Đtr 4) + Trung Xung (Tb 9) trị trúng phong bất tỉnh (Châm Cứu Đại Thành).
11. Phối Hợp Cốc (Đtr 4) + Khúc Trì (Đtr 11) + Phục Lưu (Th 7) trị thương hàn sinh ra chứng co cứng, bất tỉnh (Châm Cứu Đại Thành).
12. Phối Chiếu Hải (Th 6) + Hợp Cốc (Đtr 4) + Khúc Trì (Đtr 11) + Lâm Khấp (Đ 15) + Tam Âm Giao (Vi 6) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị tay chân, mặt và mắt sưng phù, sốt cao không hạ (Châm Cứu Đại Toàn).
13. Phối châm xuất huyết 12 Tỉnh Huyệt + châm Hợp Cốc (Đtr 4) trị trúng phong, trúng ác khí bất tỉnh (Cổ Kim Y Giám).
14. Phối Hợp Cốc (Đtr 4) + Phong Trì (Đ 20) + Thượng Tinh (Đc 23) trị đầu mặt sưng phù do hư (Châm Cứu Toàn Thư).
15. Phối Hợp Cốc (Đtr 4) + Thái Xung (C 3) + Trung Xung (Tb 9) trị chứng bạo quyết (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu).
16. Phối Hợp Cốc (Đtr 4) trị sinh xong bị kích ngất (Châm Cứu Học Thượng Hải).
17. Phối Phi Dương (Bq 58) + Trường Cường (Đc 1) trị trực trường sa (Châm Cứu Học Thượng Hải).
18. Phối Phế Du (Bq 13) + Phong Phủ (Đc 16) trị vai thẳng cứng (Châm Cứu Học Thượng Hải).
19. Phối Dũng Tuyền (Th 1) + Nội Quan (Tb 6) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị hôn mê do trúng độc (Châm Cứu Học Thượng Hải).
20. Phối Hội Âm (Nh 1) + Trung Xung (Tb 9) trị chết đuối (Châm Cứu Học Thượng Hải).
21. Phối Hợp Cốc (Đtr 4) thấu Lao Cung (Tb 8) trị Hysteria (Châm Cứu Học Thượng Hải).
22. Phối Thủ Tam Lý (Đtr 11) thấu Ôn Lưu (Đtr 7) + Tọa Cốt + Trường Cường (Đc 1) trị khớp viêm do thấp (Châm Cứu Học Thượng Hải).
23. Phối ủy Trung (Bq 40) trị chấn thương ở lưng (Châm Cứu Học Thượng Hải).
24. Phối Dũng Tuyền (Th 1) + Thập Tuyên + ủy Trung (Bq 40) trị trúng nắng (thử) (Châm Cứu Học Thượng Hải).
25. Phối Địa Thương (Vi 4) + Giáp Xa (Vi 6) + Hợp Cốc (Đtr 4) trị liệt mặt (Trung Hoa Châm Cứu Học).
26. Phối Nội Quan (Tb 6) trị sinh xong bỗng bất tỉnh (Tân Châm Cứu Học).
27. Phối Dương Lăng Tuyền (Đ 34) + Đại Chùy (Đc 14) + Hợp Cốc (Đtr 4) + Thái Xung (C 3) + Thập Tuyên trị kinh phong cấp (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).
Tham khảo
“Bệnh chứng của trúng phong không nhẹ, Trung Xung 2 huyệt có thể yên, trên bổ sau tả nếu không hết, lại châm Nhân Trung liền nhẹ ngay” (Ngọc Long Kinh).
“Huyệt Nhân Trung là huyệt chủ yếu để làm tỉnh não, khai khiếu, thường dùng nhiều trong trường hợp thần trí hôn mê. Trường hợp hôn mê nhẹ, thông thường, khí huyết suy nhược, dùng kim châm nhẹ và cạn, có thể làm cho tỉnh được.
Đối với những người thuộc dương, thực chứng, bệnh nặng, khi châm cần hướng mũi kim lên, sâu 1 – 1,5 thốn, dùng phép tả mới có hiệu quả. Sau khi rút kim chỗ huyệt có thể bị chảy máu, dùng bông gòn bịt lại để cầm máu.
Ngoài ra, khi châm người bị hôn mê, lúc đang kích thích huyệt này hoặc trong lúc đang lưu kim, người bệnh nhăn mày, nhếch mũi, khóc, rên la, hắt hơi hoặc muốn dùng tay nhổ kim ra, đó là triệu chứng sắp tỉnh, nên kích thích tiếp để mau tỉnh hơn” (Trung Quốc Châm Cứu Học).
“Châm Nhân Trung và Hội Âm (Nh 1) thấy hô hấp thay đổi rõ” (Ngô Lạc Quân, Trung Quốc).
“Gây choáng thực nghiệm trên động vật rồi châm huyệt Nhân Trung và kích thích điện. Thấy có thể điều hoà được huyết áp bị rối loạn” (Trung Quốc Tạp Chí 1985 (4): 31).
“Châm và kích thích điện huyệt Nhân trung nơi động vật đã được gây choáng. Thấy có thể cải thiện được hô hấp của con vật. Tuy nhiên, nếu cắt dây thần kinh dưới hố mắt đi rồi châm thì không còn kết quả như vậy nữa” (Châu Thư – Trung Quốc).
“Châm huyệt Nhân Trung hoặc Tố Liêu (Đc 25) của động vật thực nghiệm thấy có thể tạm thời làm tăng hô hấp. Khi súc vật tạm ngưng thở, châm những huyệt đó có thể làm hô hấp phục hồi. Ngoài ra châm còn có thể kéo dài được thời gian sống của súc vật có khí thũng ngực nhân tạo” (Viện Nghiên Cứu Thượng Hải).
“Huyệt Nhân trung là Du huyệt của mạch Đốc. Mạch Đốc từ đỉnh đầu có nhánh lạc vào não, vì vậy có tác dụng khai khiếu, tỉnh thần, dùng trị những bệnh về thần chí, cấp cứu” (Thường Dụng Du Huyệt Lâm Sàng Phát Huy).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Nhĩ Môn đó là: Huyệt ở vị trí ngay trước (được coi như cửa = môn) của tai (nhĩ) vì vậy gọi là Nhĩ Môn.
Tên gọi khác
Nhĩ Tiền, Tiểu Nhĩ.
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 21 của kinh Tam Tiêu.
Vị trí huyệt nhĩ môn
Ở ngay phía trước rãnh trên bình tai, đầu trên chân bình tai, nơi cơ tai trước.
Giải phẫu
Dưới da là cơ tai trước, xương thái dương.
Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh mặt Da vùng huyệt chi phối bởi dây thần kinh sọ não số V.
Tác dụng huyệt nhĩ môn
Khai nhĩ khiếu, sơ tà nhiệt, thông khí cơ.
Chủ trị
Trị tai ù, điếc, tai giữa viêm.
Châm cứu huyệt nhĩ môn
Châm thẳng 0,5 – 1 thốn, khi châm, há miệng ra hướng mũi kim xuống. Cứu 1 – 3 tráng. Ôn cứu 3 – 5 phút.
Phối hợp huyệt
1. Phối Ty Trúc Không (Ttu 23) trị răng đau (Thiên Kim Phương).
2. Phối Ế Phong (Ttu 17) + Não Không (Đ 19) trị tai ù, điếc (Tư Sinh Kinh).
3. Phối Ế Phong (Ttu 17) + Hợp Cốc (Đtr 4) trị tai giữa viêm (Châm Cứu Đại Thành).
4. Phối (Địa) Ngũ Hội (Đ 42) [châm trước] + Túc Tam Lý (Vi 36) trị lưng đau, tai ù (Thiên Tinh Bí Quyết).
5. Phối Chiên Trung (Nh 17) + Khí Hải (Nh 6) + Thính Hội (Đ 2) + Túc Tam Lý(Vi 36) trị tai ù do khí hư (Trung Hoa Châm Cứu Học).
6. Phối Ế Phong (Ttu 17) + Hợp Cốc (Đtr 4) + Thính Cung (Ttr 16) + Thính Hội (Đ 2) + Trung Chử (Ttu 3) trị tai ù, điếc, tai có mủ (Châm Cứu Học Giản Biên).
7. Phối Túc Ích Thông + Y Lung trị câm điếc (Châm Cứu Học Thượng Hải).
8. Phối Ế Phong (Ttu 17) + Hợp Cốc (Đtr 4) trị tai giữa viêm (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Tham khảo
Thiên ‘Quyết Bệnh’ ghi: “Tai kêu, thủ huyệt ở động mạch trước tai [huyệt Nhĩ Môn]” (Linh Khu 24, 24).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Nhũ Căn đó là: Huyệt ở phía dưới chân (căn) của vú (nhũ), vì vậy gọi là Nhũ Căn.
Tên gọi khác
Bệ Căn, Khí Nhãn.
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 18 của kinh Vị.
Vị trí huyệt nhũ căn
Ở giữa gian sườn 5, thẳng dưới đầu vú, cách đường giữa ngực 4 thốn.
Giải phẫu
Dưới da là cơ ngực to, các cơ ngực bé, các cơ gian sườn 5, bờ trên xương sườn 6, bên phải là phổi, bên trái là mỏm tim.
Thần kinh vận động cơ là nhánh cơ ngực to, nhánh cơ ngực bé của đám rối thần kinh nách, dây thần kinh gian sườn 5. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D4 – D5.
Tác dụng huyệt nhũ căn
Điều huyết, lý khí, thanh tâm, tuyên Phế.
Chủ trị
Trị sữa thiếu, tuyến vú viêm, ngực đau.
Châm cứu huyệt nhũ căn
Châm xiên 0,3 – 0,8 thốn, Ôn cứu 5 – 10 phút.
Phối hợp huyệt
1. Phối Đản Trung (Nh 17) + Khuyết Bồn (Vi 12) + Phong Môn (Bq 12) + Phế Du (Bq 13) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị ho lâu ngày không khỏi (Châm Cứu Đại Thành).
2. Phối Chi Câu (Ttu 6) + Đản Trung (Nh 17) + Khí Hải (Nh 6) + Trung Quản (Nh 12) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị các chứng thổ huyết (Châm Cứu Đại Thành).
3. Phối Du Phủ (Th 27) trị ho đàm, suyễn (Châm Cứu Tụ Anh).
4. Phối Đản Trung (Nh 17) + Khí Hải (Nh 6) + Kiên Tỉnh (Đ 21) + Kỳ Môn (C 14) + Phong Môn (Bq 12) + Tam Âm Giao (Ty 6) + Thừa Tương (Nh 24) + Trung Phủ (P.1) + Trung Quản (Nh 12) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị uế nghịch (Loại Kinh Đồ Dực).
5. Phối Đản Trung (Nh 17) + Thiếu Trạch (Ttr 1) trị sữa ít, sữa thiếu (Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu)
6. Phối Hoang Môn (Bq 51) trị tuyến vú viêm (Châm Cứu Học Thượng Hải).
7. Phối Đàn Trung (Nh 17) + Thiếu Trạch (Ttr 1) trị tuyến vú viêm cấp (Châm Cứu Học Thượng Hải).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Nhật Nguyệt đó là: Nhật Nguyệt là Mộ Huyệt của kinh Đởm, Đởm giữ chức quan trung chính, chủ về quyết đoán, làm cho mọi sự được sáng tỏ. Mặt trời, mặt trăng cũng làm cho mọi sự được sáng, vì vậy gọi là Nhật Nguyệt (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Đởm Mạc, Đởm Mộ, Thần Quang.
Xuất xứ
Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu 10).
Đặc tính
Huyệt thứ 24 của kinh Đởm.
Huyệt Mộ của kinh Túc Thiếu Dương Đởm.
Huyệt hội với Dương Duy Mạch và kinh Chính Túc Thái Âm.
Vị trí huyệt nhật nguyệt
Tại giao điểm của đường thẳng ngang qua đầu ngực và khoảng gian sườn 7.
Giải phẫu
Dưới da là chỗ tiếp nối giữa phần thịt và phần cân của cơ chéo to của bụng, các cơ gian sườn 7, bên phải là gan, bên trái là lách hoặc dạ dầy.
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh gian sườn 7. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D7 hoặc D8.
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Nhị Gian đó là: Khi hơi co ngón tay trỏ vào sẽ tạo thành 3 lóng gấp, huyệt ở cuối lóng (gian) thứ hai (nhị), vì vậy gọi là Nhị Gian.
Tên gọi khác
Chu Cốc, Gian Cốc.
Xuất xứ
Thiên ‘Bản Du’ (Linh Khu 2).
Đặc tính
Huyệt thứ 2 của kinh Đại Trường.
Huyệt Vinh, thuộc hành Thủy.
Huyệt Tả của kinh Đại Trường.
Vị trí huyệt nhị gian
Huyệt ở chỗ lõm, phía trước và bờ ngoài khớp xương bàn và ngón trỏ, trên đường tiếp giáp da gan tay, mu tay.
Giải phẫu
Dưới da là gân cơ gian cốt mu tay và xương .
Thần kinh vận động cơ là nhánh dây thần kinh trụ. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C7.
Tác dụng huyệt nhị gian
Tán tà nhiệt, lợi yết hầu.
Chủ trị
Trị ngón tay trỏ đau, bàn tay đau, răng đau, họng đau, vai đau, lưng đau, liệt mặt, sốt.
4. Phối Hợp Cốc trị mắt có màng (Châm Cứu Tụ Anh).
5. Phối Gian Sử (Tb 5) + Hợp Cốc (Đtr 4) + Ky Môn (Tb 4) + Phong Trì (Đ 20) + Thần Đạo (Đc 11) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị thương hàn đầu đau, người sốt (Loại Kinh Đồ Dực).
7. Phối Thủ Tam Lý trị đầu đau, răng đau, họng sưng (Thiên Tinh Bí Quyết).
Tham khảo
“Mắt mờ không thấy gì, nên châm huyệt Nhị Gian” (Thông Huyền Chỉ Yếu Phú).
“Răng đau, lưng đau, cổ họng sưng đau, châm huyệt Nhị Gian + Dương Khê thì tật bệnh sẽ trốn đi nơi khác” (Tịch Hoằng Phú).
“Sợ lạnh và lạnh run, châm Nhị Gian và Âm Khích, sẽ xua tà và làm thông khí” (Bách Chứng Phú).
“Chứng đầu phong có phân ra thiên và chính, phân biệt bằng cách xem có đờm ẩm hay không. Nếu bệnh nhân có đờm ẩm, châm huyệt Phong Trì (Đ 20), nếu không có đờm ẩm thì châm huyệt Hợp Cốc” (Ngọc Long Ca).
Châm luồn kim dưới da sâu 0,2 – 0,8 thốn. Cứu 5 – 10 phút.
Phối hợp huyệt
1. Phối Não Không (Đ 19) + Thông Thiên (Bq 7) trị đầu nặng đau (Thiên Kim Phương).
2. Phối Dương Cương (Bq 48) + Đởm Du (Bq 19) + Ý Xá (Bq 49) trị mắt vàng (Tư Sinh Kinh).
Ghi chú
Tránh châm vào xương. Sách Giáp Ất ghi cấm cứu. Nếu châm lầm, gây ra nhức đầu, nên dùng huyệt Bá Hội (Đốc 20) để giải, châm kim (Bá Hội) hơi xiên xuống phía dưới, lắc nhẹ kim hoặc hơi xoay kim ra 4 phía (Danh Từ Huyệt Vị Châm Cứu).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Não Không đó là: Huyệt ở vị trí gần Não Hộ, lại có tác dụng thanh não, thông khiếu, vì vậy gọi là Não Không (Trung Y Cương Mục).
Tên gọi khác
Nhiếp Nhu.
Xuất xứ
Giáp Ất Kinh.
Đặc tính
Huyệt thứ 19 của kinh Đởm.
Huyệt hội với Dương Duy Mạch.
Vị trí huyệt não không
Sau huyệt Thừa Linh 1,5 thốn, trên Phong Trì 1,5 thốn, ngang với ụ chẩm và Não Hộ (Đốc Mạch).
Giải phẫu
Dưới da là chỗ cơ chẩm, cơ gối đầu và cơ thang bám vào đường cong chẩm trên của xương chẩm. Thần kinh vận động cơ là nhánh của dây thần kinh sọ não số XI, nhánh của dây thần kinh số 2, nhánh của dây thần kinh chẩm lớn, nhánh của thần kinh dưới chẩm. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh C2.
Tác dụng
Thanh đởm, tả hoả, thư cân, hoạt lạc, tỉnh não, thông khiếu.
Chủ trị
Trị đầu đau, cổ gáy cứng, suyễn.
Châm cứu: Châm dưới da 0,3 – 0,5 thốn. Cứu 3 – 5 tráng. Ôn cứu 5 – 10 phút.
Phối hợp huyệt
1. Phối Thúc Cốt (Bq 65) trị điên, đầu đau (Thiên Kim Phương).
2. Phối (Đầu) Khiếu Âm (Đ 11) trị mũi nghẹt, đầu đau (Tư Sinh Kinh).
Ý nghĩa tên gọi Huyệt Nội Quan đó là: Huyệt có tác dụng trị bệnh ở ngực, Tâm, Vị… lại nằm ở khe mạch ở tay, vì vậy gọi là Nội Quan (Trung Y Cương Mục).
Xuất xứ
Thiên ‘Kinh Mạch’ (Linh Khu 10).
Đặc tính
Huyệt thứ 6 của kinh Tâm Bào.
Huyệt Lạc. Của kinh Tâm Bào
Huyệt giao hội với Âm Duy Mạch.
Một trong Lục Tổng Huyệt trị vùng ngực.
Vị trí huyệt nội quan
Trên cổ tay 2 thốn, dưới huyệt Gian Sử (Tb 6) 1 thốn, giữa khe gân cơ gan tay lớn và bé.
Giải phẫu
Dưới da là khe giữa gân cơ gan tay lớn, gân cơ gan tay bé, gân cơ gấp dài ngón tay cái, gân cơ gấp chung ngón tay nông và sâu, cơ sấp vuông, màng gian cốt quay và trụ.
Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh giữa, các nhánh của dây thần kinh trụ. Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D1 hoặc C6.
Tác dụng huyệt nội quan
Định Tâm, an thần, lý khí, trấn thống, thanh Tâm Bào.
Chủ trị
Trị hồi hộp, vùng trước tim đau, vùng ngực và hông sườn đau, dạ dày đau, nôn, nấc, mất ngủ, động kinh, hysteria.
Trị các ngón tay tê dại, mũi kim hơi hướng xuống 1 bên tay quay.
Trị thần kinh suy nhược + mất ngủ, có thể châm xiên qua Ngoại Quan.
Phối hợp huyệt
1. Phối Âm Khích (Tm.6) + Tâm Du (Bq 15) + Thông Lý (Tm.5) trị Tâm hư yếu, hồi hộp, lo sợ (Châm Cứu Đại Thành).
2. Phối Tâm Du (Bq 15) + Thần Môn (Tm.7) trị hồi hộp (Châm Cứu Đại Thành).
3. Phối Ngư Tế (P.10) + (Túc) Tam Lý (Vi 36) trị ăn không xuống (Châm Cứu Đại Thành).
4. Phối Cách Du (Bq 17) trị ngực đầy tức (Châm Cứu Đại Thành).
5. Phối Trung Quản (Nh 12) + (Túc) Tam Lý (Vi 36) trị bụng đau (Châm Cứu Đại Thành).
6. Phối Dũng Tuyền (Th 1) + Đại Lăng (Tb 7) + Hợp Cốc (Đtr 4) + Thập Tuyên + Tứ Hoa trị ngũ tâm phiền nhiệt (Châm Cứu Đại Thành).
7. Phối Hợp Cốc (Đtr 4) + Khúc Trạch (Tb 3) + Khúc Trì (Đtr 11) + Liệt Khuyết (P.7) + Ngư Tế (P.10) + Phế Du (Bq 13) + Thần Môn (Tm.7) trị phong độc ẩn chẩn [mề đay] (Châm Cứu Đại Thành).
8. Phối Tâm Du (Bq 15) + Thần Môn (Tm.7) trị hồi hộp (Châm Cứu Đại Thành).
9. Phối Bá Hội (Đc 20) + Thần Môn (Tm.7) trị Tâm hư, kinh sợ, tâm thần không yên (Châm Cứu Đại Toàn).
10. Phối Âm Khích (Tm.6) + Tâm Du (Bq 15) + Thông Lý (Tm.5) trị các chứng hư của tim, tim hồi hộp, hay sợ (Châm Cứu Đại Toàn).
11. Phối Cách Du (Bq 17) + Can Du (Bq 18) + Thừa Sơn (Bq 57) + Trường Cường (Đc 1) trị tiêu ra máu không cầm, tạng độc (Châm Cứu Đại Toàn).
12. Phối Công Tôn (Ty 4) trị bụng đau (Tịch Hoằng Phú).
13. Phối Kiến Lý (Nh 11) trị bồn chồn trong ngực (Tịch Hoằng Phú).
14. Phối Chiếu Hải (Th 6) trị bụng đau do kết tụ (Ngọc Long Kinh).
15. Phối Ngư Tế (P.10) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị ăn không xuống (Thần Cứu Kinh Luân).
16. Phối Cao Hoang (Bq 43) + Dịch Môn (Ttu 2) + Giải Khê (Vi 41) + Thần Môn (Tm.7) trị tim hồi hộp, mất ngủ, hay quên (Thần Cứu Kinh Luân).
17. Phối Túc Tam Lý (Vi 36) trị dạ dầy đau (Châm Cứu Học Thượng Hải).
18. Phối Công Tôn (Ty 4) trị dạ dầy đau (Châm Cứu Học Thượng Hải).
19. Phối Thiên Đột (Nh 22) trị nấc (Châm Cứu Học Thượng Hải).
20. Phối Gian Sử (Tb 5) + Thiếu Phủ (Tm.8) trị thấp tim (Châm Cứu Học Thượng Hải).
21. Phối Gian Sử (Tb 5) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị tim quặn đau (Châm Cứu Học Thượng Hải).
22. Phối Tố Liêu (Đc 25) trị huyết áp thấp (Châm Cứu Học Thượng Hải).
23. Phối Dũng Tuyền (Th 1) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị hôn mê do trúng độc (Châm Cứu Học Thượng Hải).
24. Phối Nội Đình (Vi 44) + Tam Âm Giao (Ty 6) + Trung Quản (Nh 12) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị ợ hơi (Trung Hoa Châm Cứu Học).
25. Phối Phong Trì (Đ 20) trị nôn mửa (Châm Cứu Học Thủ Sách).
26. Phối Cách Du (Bq 17) + Cự Khuyết (14) + Túc Tam Lý (Vi 36) trị nấc (Tứ Bản Giáo Tài Châm Cứu Học).
Tham khảo
Thiên Kinh Mạch ghi: “Biệt của thủ Tâm chủ gọi là Nội Quan… Bệnh thực sẽ làm cho Tâm thống, bệnh hư sẽ làm cho đầu, gáy bị cứng, nên thủ huyệt ở giữa 2 đường gân” (Linh Khu 10, 39,40).
“Phàm người Tâm thực chứng thì trong Tâm đau đột ngột. Hư chứng thì Tâm phiền, kinh sợ mà không cử động được, mất trí, Nội Quan chủ trị” (Bị Cấp Thiên Kim Phương).
“Tam Tiêu gây bệnh làm cho trong tai điếc, họng sưng đau, họng khô, mắt sưng đỏ, sau tai đau, khuỷu tay đau, ra mồ hôi, sau lưng và cột sống đau, đau từ vai lưng đến tay, táo bón, tiểu dầm, tiểu bí: châm huyệt Dương Trì + Nội Quan (Thập Nhị Kinh Trị Chứng Chủ Khách Nguyên Lạc Quyết – Châm Cứu Đại Thành).
“Bệnh ở giữa ngực: Nội Quan gánh” (Lan Giang Phú).
“Trị thương hàn ở kinh Thái Âm đã 4 ngày, trước hết dùng Chiếu Hải + Công Tôn, sau đó dùng Nội Quan” (Lan U Phú).
“Tất cả nội thương huyệt Nội Quan, đờm hỏa tích khối lui cơn phiền” (Tạp Bệnh Huyệt Pháp Ca).
“Việc kích thích thần kinh của huyệt Nội Quan và Tâm Bào Kinh không có 1 liên hệ nào về mặt giải phẫu đối với tim. Nhưng về mặt kinh lạc và sự hiệu nghiệm của liệu pháp: nếu kích thích huyệt Nội Quan, quả thật nó có ảnh hưởng đến tạng Tâm. Do đó ta biết rằng học thức về kinh lạc của người xưa là điều mà ngành giải phẫu học hiện đại không thể chia xẻ sự hiểu nhau được” (Kinh Lạc Chi Vận Dụng).
“Châm huyệt Nội Quan: Nếu nhịp tim đang nhanh thì sẽ chậm lại, nếu nhịp tim đang chậm thì nhanh lên.Nếu nhịp tim bình thường thì không có thay đổi rõ rệt” (Thượng Hải Đệ II Y Học Viện Học Báo 1983, 1: 74).
“Tiêm Adrenalin để làm tăng tần số tim của thỏ, sau đó, châm huyệt Nội Quan + Túc Tam Lý (Vi 36) thì tim đập chậm lại, tác dụng của Adrenalin bị ức chế rõ” (Trung Quốc Châm Cứu Tạp Chí 1981, 2: 2).
“Gây rối loạn dẫn truyền nhĩ thất trên động vật thực nghiệm: nếu châm huyệt Nội Quan thì tần số tim nhanh lên và đều lại. Nếu châm huyệt Giao Tín (Th 8) thì tần số tim chậm lại và loạn nhịp hơn” (Bệnh Viện Nhân Tế thuộc Học Viện Y Học Thượng Hải II).
“Châm huyệt Nội Quan cả trong điều trị và châm tê đều có thể làm cho huyết áp đang hạ được lên cao. Hoặc ngược lại, huyết áp đang cao hạ xuống” (Trung Y Tạp Chí 1981, 7: 49 – 52).
“Gây hạ huyết áp bằng Acetylcholin rồi châm huyệt Nội Quan thấy huyết áp tăng lên. Ngược lại, gây cao huyết áp bằng Adrenalin rồi châm huyệt Nội Quan thấy huyết áp tụt xuống” (Sở Nghiên Cứu Sinh Lý Viện Khoa Học Trung Quốc).
“Nội Quan phối Đại Chùy (Đc 14). Nội Quan là lạc huyệt của kinh Tâm Bào, nối vào kinh Tam Tiêu, thông với mạch Dương Duy. Dựa theo đường vận hành của nó, có thể trị được các bệnh ở vùng ngực.
Đại Chùy là huyệt Lạc của 3 kinh Dương ở tay và mạch Đốc. Châm Đại Chùy để điều hòa khí ở thái dương, khi khí được hòa thì thủy tự nhiên thông. Đại Chùy kết hợp với Nội Quan để tuyên thông dương khí của Tâm, thông lợi được Tam Tiêu, sơ thông ứng trệ. Khi Tam Tiêu được lưu thông nước sẽ đến Bàng Quang, đờm sẽ tự trừ. Cách phối huyệt này có thể so sánh với bài Đại Thanh Long Thang. Hoặc Tiểu Thanh Long Thang và Linh Quế Truật Cam Thang của Trương Trọng Cảnh”. (Phối huyệt Khái Luận Giảng Nghĩa).
“Nội Quan… phối hợp với Tam Âm Giao (Ty 6) có thể tư âm dưỡng huyết, kiện Tỳ, ích Vị. Giao tế được thủy hỏa, quân bình âm dương. Là phương pháp chính trị đối với chứng thượng thực hạ hư gây ra các chứng xương đau nhức. Thắt lưng đau, nóng trong xương, ho, mồ hôi trộm, thiếu máu, bế kinh. Chọn Nội Quan để thanh phần trên, Tam Âm Giao để tư bổ phần dưới. Trước là để hòa dương, sau là cố âm. Âm dương hòa thì có thể tư sinh, hóa dục được” (Phối huyệt Khái Luận Giảng Nghĩa).
“Nội Quan và Gian Sử có tác dụng khác nhau: Nội Quan thiên về thông sướng Tâm lạc, trị ứ trở ở Tâm lạc. Gian Sử thiên về hành khí, tán trệ, trị khí trệ ở lạc mạch. (Du Huyệt Công Năng Lãm Biệt).