Home Blog Page 44

Kim Tiền Thảo

KIM TIỀN THẢO (Cây vẩy rồng) Dùng lá của cây kim tiền thảo Desmodium styracifolium (Osb) Merr. Họ Đậu Fabaceae.

Tính vị: vị ngọt, đắng, tính bình

Quy kinh: vào 2 kinh thận và bàng quang

Công năng chủ trị:

– Thẩm thấp, nợi niệu, dùng trị bệnh viêm thận, phù thũng, tiểu tiện bí, niệu đạo và bàng quang có sỏi và bệnh phù sau khi đẻ. Để chữa sỏi thận có thể phối hợp với râu mèo, trạch tả, bạch linh, kê nội kim, trư linh…

– Lợi mật, chữa sỏi mật, phối hợp với râu ngô, mã đề

– Thanh nhiệt giải độc, chữa mụn nhọt, ung nhọt, phối hợp với kim ngân, sài đất.

Liều dùng: 10-30g

Ngoài ra còn dùng rễ cây kim tiền để chữa bệnh cam tích ở trẻ em và chữa viêm tuyến vú.

Hiện nay Kim tiền thảo đã được nhân dân nhiều nơi trồng trọt để lấy nguyên liệu làm thuốc.

Tỳ Giải

TỲ GIẢI Là thân rễ của cây tỳ giải Dioscorea tokoro Makino. Họ Củ mài Dioscoraceae.

Tính vị: vị đắng, tính bình

Quy kinh: vào 3 kinh tỳ, thận, bàng quang

Công năng chủ trị:

– Lợi thấp hóa trọc, dùng trong các trường hợp tiểu tiện vàng đỏ, nước tiểu ít đục, đi tiểu buốt dắt do viêm thận cấp; hoặc bệnh bạch đới của phụ nữ, phối hợp với kim tiền thảo, xa tiền tử, thông thảo, ngưu tất, hoàng bá.

– Khử phong trừ thấp, hành huyết ứ: dùng trong các trường hợp chân tay đau nhức, đau khớp do phong hàn thấp tỳ, phối hợp với thổ phục linh, ngưu tất.

– Giải độc, trị mụn nhọt: phối hợp với liên kiều, kim ngân hoa, ké đầu ngựa.

– Trừ thấp nhiệt đối với phần khí bị thấp nhiệt dẫn đến sốt cao, phối hợp với phục linh, mộc thông.

Liều dùng: 6-12g

Kiêng kỵ: những người âm hư không có thấp nhiệt không dùng. Khi dùng có thể ngâm với rượu, sau phơi khô hoặc trích với nước muối.

Chú ý:

Ngoài cây tỳ giải nói trên, hiện nay trên thị trường thuốc nam còn dùng rễ của cây nam tỳ giải Smilax forex Wall ex Kunth. Họ Kim cang Smilacaceae, rễ phơi khô có màu trắng, vị chát, hơi đắng, tính bình. Quy kinh thận, bàng quang; cũng dùng với tính chất lợi thấp hóa trọc, chữa tiểu tiện bí đái, đau buốt: giải độc, trị mụn nhọt. lở ngứa, đau xương khớp, khí hư bạch đới.

Râu Ngô

RÂU NGÔ Là vòi và núm của hoa ngô Zea mays L. Họ Lúa Poaceae

Tính vị: vị ngọt, tính bình

Quy kinh: vào 2 kinh can và thận

Công năng chủ trị:

– Lợi tiểu, tiêu phù thũng, trị tiểu tiện khó khăn, đái buốt, phù thũng, sỏi niệu đạo, có thể phối hợp với mã đề, kim tiền thảo, diệp hạ châu, bạch mao căn, râu mèo, lá bòn bọt, mỗi thứ 20g, hoặc dùng chè lợi tiểu, râu ngô 20g, bông mã đề 20g.

– Lợi mật: dùng trong bệnh viêm gan, tắc mật, bài tiết mật của gan bị trở ngại.

Liều dùng: 12-24g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: râu ngô có tác dụng tăng lượng nước tiểu từ 3-4 lần, làm tăng sự bài tiết của mật và tỷ trọng nước tiểu giảm đi, lượng bilirubin trong máu cũng giảm; lượng prothrombin trong máu tăng lên và do đó làm máu đông nhanh. Do đó trên lâm sàng còn dùng vị thuốc để cầm máu, giảm đau trong bệnh gan mật.

Ý Dĩ

Ý DĨ Là nhân hạt của cây ý dĩ Coix lachryma jobi L. Họ Lúa Poaceae. Ngoài ra còn
dùng các bộ phận khác của cây.

Tính vị: vị ngọt, nhạt, tính hơi hàn

Quy kinh: vào 5 kinh tỳ, vị, phế, can, đại tràng

Công năng chủ trị:

– Lợi thủy: dùng để trị các bệnh phù thũng, tiểu tiện khó khăn, đái buốt (dùng hạt, hoặc cây, lá, rễ, sắc uống).

– Kiện tỳ hóa thấp, dùng để trị bệnh hư tỳ, tiêu hóa kém, tiết tả, ý dĩ sao vàng cùng với một số các vị thuốc khác trong bài phì nhi cam tích, dùng tốt đối với trẻ em.

– Trừ phong thấp, đau nhức, phối hợp với ma hoàng, phòng kỷ, mộc thông.

– Thanh nhiệt độc, trừ mủ: dùng điều trị chứng phế hóa mủ (apces phổi), dùng rễ ý dĩ kết hợp với lô căn, đào nhân, diếp cá.

– Thư cân giải kinh: dùng khi chân tay bị co quắp.

– Giải độc tiêu viêm: dùng ý dĩ trong bệnh viêm ruột thừa, phối hợp với kim ngân hoa trong bệnh nổi mụn ở mặt, trứng cá (hạt ý dĩ nấu cháo ngày 10g) hoặc phối hợp với thuốc thanh nhiệt giải độc.

Liều dùng: 20-50g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: nhân ý dĩ có tác dụng ức chế tế bào ung thư, rễ ý dĩ có tác dụng trừ giun, lợi tiểu. Dùng ý dĩ sống có tác dụng lợi thấp nhiệt, sao vàng hoặc sao với nước gừng thì ôn bổ phế tỳ. Những người đại diện táo kết hoặc phụ nữ có thai không nên dùng. Rễ ý dĩ còn có tác dụng hạ đường huyết.

– Dùng với tính chất lợi thấp, lợi thủy thì sao hoặc không sao. Khi dùng với tính chất kiện tỳ thì sao vàng.

Trạch Tả

TRẠCH TẢ Là củ của cây trạch tả Alisma plantago aquatica L. var. orientale (Sam.juzep).
Họ Trạch tả Alismataceae.

Tính vị: vị ngọt, tính hàn

Quy kinh: vào 3 kinh can, thận, bàng quang

Công năng chủ trị:

– Lợi thủy thẩm thấp, thanh nhiệt: dùng để chữa các bệnh tiểu tiện khó khăn, đái buốt, đái dắt, trị phù thũng. Có trong thành phần lục vị.

– Thanh thấp nhiệt ở đại tràng: dùng chữa ỉa chảy

– Thanh thấp nhiệt ở can: dùng trong các bệnh đau đầu, nặng đàu, váng đầu, hoa mắt. Ngoài ra còn có tác dụng ích khí, dưỡng ngũ tạng

Liều dùng: 8- 16g

Chú ý:

– Lá mã đề còn được dùng lợi niệu, viêm nhiễm đường niệu (giống như hạt); lá giã nát đắp mụn nhọt có kết quả. Dùng bộ phận trên mặt đất để phòng và chữa bệnh quai bị (đối với trẻ em). Dịch ép tươi của bộ phận trên mặt đất có tác dụng chống loét dạ dày và tá tràng. Những người thận hư không thấp nhiệt không nên dùng.

– Tác dụng dược lý: hạt mã đề có tác dụng tăng cường bài tiết nước tiểu, tăng bài tiết lượng acid uric, lượng muối NaCl. Chất glycozid chiết ra từ hạt, có tác dung ức chế trung khu hô hấp, xúc tiến sự phân tiết ở niêm mạc đường hô hấp (cho nên cơ thể dùng trấn ho trừ đờm). Ngoài ra mã đề còn có tác dụng hạ huyết áp.

– Tác dụng kháng khuẩn: vị thuốc có tác dụng ức chế trực khuẩn lỵ

– Khi dùng thường sao cho hạt khô, phồng lên

Bạch Phục Linh

BẠCH PHỤC LINH (Phục linh) Là hạch nấm phục linh Poria cocos (Schw) Wolf. Họ Nấm lỗ Polyporaceae ký sinh trên rễ cây thông.

Tính vị: vị ngọt, nhạt, tính bình

Quy kinh: vào 5 kinh tỳ, thận, vị, tâm, phế

Công năng chủ trị:

– Lợi thấp, thẩm thấp: dùng trong các bệnh tiểu tiện bí, đái buốt, nhức, nước tiểu đỏ, hoặc đục, lượng nước tiểu ít, người bị phù thũng. Khi dùng có thể phối hợp với trạch tả, xa tiền tử (hạt mã đề).

– Kiện tỳ: dùng trong bệnh của tạng tỳ bị hư nhược gây ỉa lỏng, thường phối hợp với đẳng sâm, bạch trật, hoàng kỳ co trong thành phần của bài tứ quân.

– An thần: trị tâm thần bất an, tim loạn nhịp, hồi hộp, mất ngủ hay quên; thường phối hợp với viễn chí, long nhãn, toan táo nhân.

Liều dùng: 12-16g

Chú ý:

– Trên lâm sàng người ta đã tổng kết vỏ của phục linh có tác dụng lợi tiểu, tiêu phù, dùng để trị bí tiểu tiện (có trong thành phần của bài ngũ bì ẩm). Người ta chia phục linh ra làm 3 bộ phận từ ngoài vào trong của nó, lần lượt là xích phục linh (vì có màu đỏ nhạt), xích phục linh có tác dụng lợi thấp nhiệt. Lớp trong cùng có các sợi nấm xốp, có rễ thông ở giữa xuyên qua, gọi là phục thần, có tác dụng an thần, trị mất ngủ, hồi hộp. Lớp màu trắng gọi là bạch phục linh, bạch phục linh để kiện tỳ, lợi thấp.

– Tác dụng dược lý: phục linh có tác dụng lợi niệu, hạ đường huyết, có tác dụng cường tim ếch cô lập. Tác dụng trấn tĩnh, tác dụng chống nôn do acid Pachymie.

– Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc 100% có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn biến hình. Cần phân biệt với thổ phục linh Smilax glabra Roxb, dùng để làm mạnh gân cốt, chữa xương khớp, lợi tiểu; còn có tác dụng hạ đường huyết.

Thương Truật

THƯƠNG TRUẬT Là rễ của cây thương truật Atractylodes lancea (thumb). Họ Cúc Asteraceae.

Tính vị: vị đắng, cay, tính ấm

Quy kinh: vào 2 kinh tỳ và vị

Công năng chủ trị:

– Hóa thấp kiện tỳ: trị thấp khuẩn tỳ vị, bụng trướng đầy, buồn nôn, ăn uống không tiêu; phối hợp với hậu phác.

– Trừ phong thấp, dùng trong các trường hợp phong thấp, tê dại xương cốt đau nhức, đau khớp, thường phối hợp với phòng phong, cẩu tích, độc hoạt. Thanh can sáng mắt; dùng trị bệnh mắt mờ, có thể nấu với gan lợn.

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người âm hư hỏa nhiệt; tân dịch khô kiệt, tiện bí, nhiều mồ hôi không nên dùng. Qua sử dụng lâm sàng, người ta thấy rằng thương truật sống thì tác dùng táo thấp mạnh, thương truật sao, tính táo yếu đi. Vì thế những người thấp nhẹ dùng thương truật sao vàng; trước đó có thể rủa nước lã, ngâm nước gạo, thái phiến.

Phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ 60-70 độ C.

Đại Phúc Bì

ĐẠI PHÚC BÌ Phần vỏ quả cau đã chín, phơi khô, sao vàng của cây cau Areca catechu L. Họ
Cau Aracaceae.

Tính vị: vị cay, tính hơi ấm

Quy kinh: vào 4 kinh tỳ, vị, đại tràng, tiểu tràng

Công năng chủ trị:

– Hóa thấp, hạ khí khoan trung: dùng khi thấp trở vị tràng, dẫn đến đau bụng, đầy trướng, có thể phối hợp với hoắc hương, hậu phác, phục linh, thần khúc, hạnh nhân, mạch nha… hoặc chữa nôn lợm, đau bụng phối hợp với sinh khương, trần bì, ô dược.

– Liệu niệu tiêu phù: dùng khi bụng báng (nước), tiểu tiện không thông. Có thể phối hợp với 4 loại vỏ khác trong phương (ngũ bì ẩm) (Xem phần sinh khương).

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người thể hư, khí nhược dùng phải thận trọng

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: alcaloid areconin chứa trong hạt cây cau gây tiết nước bọt, làm co nhỏ đồng tử, làm tim đập chậm, có tác dụng độc với sán, tê bại các cơ của sán.

Sa Nhân

SA NHÂN Là hạt của cây sa nhân Amomum ovoideum Pierre và một số loại khác trong
chi Amomum. Họ Gừng Zingiberaceae. Ngoài ra còn dùng vỏ của quả.

Tính vị: vị cay, tính ấm

Quy kinh: vào 3 kinh tỳ, thận, vị

Công năng chủ trị:

– Lý khí hóa thấp: dùng chữa đau bụng, đầy bụng buồn nôn, đi tả hoặc đại tiện ra máu, hoặc ăn uống không tiêu. Phối hợp với vân mộc hương, nam mộc hương, hoặc hương.

– Trừ phong thấp, giảm đau: dùng trong trường hợp chân tay, mình mẩy đau nhức, đau xương hoặc đau cơ bắp, đau dây thần kinh liên sườn, đau gáy… dùng sa nhân cùng với một số vị thuốc khác như thiên niên kiện, địa liền… ngâm với rượu uống hoặc xoa bóp, còn dùng chữa đau răng, viêm lợi.

– An thai: dùng trong trường hợp thai động bất an hoặc có xuất huyết, phối hợp với tang ký sinh, tục đoạn, ngải cứu (sao giấm) trư ma căn.

Liều dùng: 2-4g

Chú ý:

– Tác dụng kháng khuẩn: tinh dầu sa nhân có tác dụng diệt lỵ amip. Để tránh thất thoát khí vị, không nên sắc lâu sa nhân.

Hoắc Hương

HOẮC HƯƠNG Dùng cành và lá cây hoắc hương Pogostemon cablin Blanco. Họ Hoa môi
Lamiaceae.

Tính vị: vị cay, đắng, tính hơi ấm

Quy kinh: vào 2 kinh vi đại tràng

Công năng chủ trị:

– Giải cảm nắng, hóa thấp: dùng trong bệnh cảm nắng mùa hè, thường phối hợp vơi tô tử, mần tưới.

– Thanh nhiệt ở tỳ vị: dùng trong các trường hợp đầy bụng, trướng bụng ăn không tiêu hoặc ợ chua, miệng hôi, đau bụng đi tả; có thể dùng bài hoắc hương chính khí; hoắc hương 15g, tô diệp 10g, thương trật 8g, cam thảo 3g, trần bì 5g, đại táo 4 quả, hậu phác 3g, phục linh 6g.

– Hòa vị, chỉ nôn, dùng trị đau bụng do lạnh, chỉ nôn mửa và kèm theo đi tả, hoặc thượng thổ hạ tả (bệnh hoắc loạn) dùng phương thuốc trên , thêm bán hạ chế hoặc dùng hoắc hương 12g, củ xả 8g, vỏ quýt, vỏ rụt, gừng tươi, hạt củ cải mỗi thứ 12g, sa nhân 6g.

Liều dùng: 6-12g

Chú ý:

– Tác dụng dược lý: thuốc có tác dụng trấn tĩnh với thần kinh vị tràng, xúc tiến sự bài tiết dịch vị và công năng tiêu hóa.